Điếu ca cho Ignacio Sánchez Mejías/Llanto por Ignacio Sánchez Mejías-FEDERICO GARCIA LORCA, NGU YÊN giới thiệu và chuyển ngữ

Điếu ca cho Ignacio Sánchez Mejías là một trong những tác phẩm hay nhất của thi sĩ Federico Garcia Lorca. Một trong những trường thi hàng đầu trên thế giới trong thế kỷ 20. Sáng tác trong năm 1934, trình làng 1935. Khoảng một năm trước khi ông qua đời. Christopher Maurer, Vanderbilt University, Nashville, Tennessee nhận xét rằng: … là một tác phẩm thơ lớn nhất của Tây ban Nha kể từ thi sĩ Jorge Manrique của thế kỷ 15. ( trang xvi, Federico Garcia Lorca Selected Verse. A Billingual Edition.)

Tác phẩm chia làm bốn phần:
1- La cogida y la muerte. Đấu bò và cõi chết. The Goring and the Death.
2- La sangre derramada. Máu Chảy. The spilled blood.
3- Cuerpo presente. Xác thân còn đó. Presence of the body.
4- Alma ausente. Vắng bóng linh hồn. Adsence of the soul.

Ignacio sánchez Mejías là một tay đấu bò nổi tiếng ở Tây Ban Nha vào đầu thế kỷ 20. Sinh ở Seville tháng Sáu năm 1891 và qua đời ngày 13 tháng Tám năm 1934 tại Madrid. Ông còn là một nhà văn. Những nghệ sĩ đương thời như Miguel Hermández, Rafael Alberti, Jorge Guillén, José Bergamín, Dámaso Alonso, Gerardo Diego…. và Federico Garcia Lorca là bạn thân của ông. Mejías có vợ và nhiều tình nhân. Encarnación López, vợ chính thức của ông, vừa là ca sĩ vừa là nghệ sĩ trình diễn vũ nhạc, được yêu chuộng đương thời. Bà có biệt danh là La Argentinita. Bà hạ sinh cho ông hai cô con gái. Qua López, Mejías và Lorca trở thành bạn thân. Đi xa hơn một bước nữa là tình nhân.
Năm 1934, Mejías gặp một nghệ sĩ người Pháp gốc Tây Ban Nha, cô Marcelle Auclair, và đem lòng yêu thương. Chia tay với Lorca, Mejías đeo đuổi cô Auclair về tận bên Pháp nhưng mối tình không thành. Ông trở về lại Tây Ban Nha và nhận lãnh số mệnh của mình. Bạn của ông, Domingo Ortega, cũng là một tay cao thủ đấu bò, sẽ trình đấu tại vận động trường ở Manzanares ngày 11 tháng Tám năm 1934 nhưng chẳng may bị tai nạn xe trên đường đi. Ortega phải nhờ Mejías thay thế. Trong trận đấu này, Ignacio Sánchez Mejías đã bị trọng thương. Sừng bò mộng đâm
thủng chân và bụng. Mejías muốn được chửa thương ở bệnh viện tại Madrid nhưng xe cứu thương gặp trở ngại khi đưa ông đến bệnh viện. Hai ngày sau ông bị nhiễm trùng, bệnh trở nặng và qua đời vào buổi sáng ngày 13. 

Sau cái chết của Ignacio Sánchez Mejías.
Cái chết của Mejías đã gây khủng hoảng và đau đớn cho Lorca trong một thời gian dài. Trong nỗi đau khổ đó, Điếu Ca cho Ignacio Sanchéz Mejías đã ra đời.
Điếu Ca này đã đạt được những tinh túy thơ của Lorca. Phối hợp lối kể chuyện như trong Primer romancero gitano (Tình ca Ballad Gypsy). Tạo dựng nhữngcấu trúc siêu thực như trong Poeta en nueva york (Thi sĩ trong thành phố New York) nhưng cô đọng thâm trầm theo nhịp điệu bi ai của điếu ca của giống dân du mục Gypsy. Những biểu tượng và sự vật tượng trưng nhìn thấy trùng trùng điệp điệp trong bài trường thi này. Và cao đẹp nhất là những cảm xúc sâu đậm được diễn đạt thành những mỹ cảm rất cảm động và quí phái. Tình cảm của ông như những con nước triều cường hết đợt này đến đợt khác dâng
lên, kéo xuống. Lồng lộng trong ngôn ngữ và cơ cấu của từng câu, từng đoạn thơ, viết ra từ một cái chết bình thường như mọi cái chết, trở thành một bi kịch văn chương.

Nghệ thuật thơ trong Điếu Ca.
Thơ là con đường đặc biệt của ngôn ngữ nằm trong một khuôn khổ của cấu trúc, cho dù không có khuôn nào cố định. Câu, âm thanh, hình ảnh, tứ tượng và ý nghĩ sẽ khơi động mãnh liệt sự tưởng tượng từ thi sĩ đến độc giả. Trong Điếu Ca cho Ignacio Sánchez Mejías, thi sĩ Lorca đã khéo léo vận dụng những kỹ thuật và hổn hợp những nghệ thuật khác nhau của tượng trưng, siêu thực và truyền thống một cách trôi chảy. Trước tiên ông đã sử dụng ngữ lực để tạo ra những những hình ảnh trong trí tưởng và trong tâm lý, từ ông chuyển đạt sang người đọc. Nơi đây mới thấy khả năng thi ca của ông khi dùng những cảnh-sự-vật siêu thực để liên kết hoặc tách lìa hiện thực. Đôi khi người đọc liên tưởng được những điều ông chuyên chở. Đôi khi người đọc lạc lõng vào mơ-thức (vô thức và mơ ngày) của ông. Ví dụ như ông dùng hình ảnh con báo dũng mãnh để chỉ cho thân xác người đấu bò và con bồ câu để chỉ cho tâm thức của Ignacio.
Ya luchan la paloma y el leopardo, chim bồ câu đã chiến đấu cùng con báo. ( Câu 14). Ông còn dùng những biểu tượng hoặc tượng trưng tạo ra những lớp dày của tứ thơ. Từ đó ông tạo ra tâm trạng cho người đọc. Ông lôi kéo người thưởng ngoạn và âm thầm thuyết phục họ để họ chìm vào cảm xúc của tâm sự thơ một cách tự nhiên. Đặc biệt, ông tạo cho bài thơ di chuyển trong nhạc điệu. Đôi khi nhạc điệu rất tự do.
Điếu ca này xây dựng trên cái chết của Mejías, để than khóc và bày tỏ tâm sự của tình nhân trong dày vò của mất mát yêu thương nhưng tứ thơ, ý thơ và cơ cấu thơ đã vượt lên mức độ điếu ca cho một người để trở thành điếu ca cho cả mọi người. Tâm trạng và không khí chết chóc đã được xây dựng một cách chân tình và cảm động nhưng cao kỳ. Đây cũng là biệt tài của ông. Văn chương Tây Ban Nha nhận xét về ông như sau, ở đỉnh cao của khả năng sáng tạo, Federico Garcia Lorca đã làm chủ được ngôn ngữ, hình ảnh và cảm xúc như một bản hòa tấu. Xin đọc:

A lo lejos ya viene la gangrena
a las cinco de la tarde.
Trompa de lirio por las verdes ingles
a las cinco de la tasrde.
Las heridas quemaban como soles
(Trích La cogida y la muerte. Câu 41 đến câu 45)
Mùi tử khí vội từ xa phảng phất
lúc 5 giờ chiều.
Dấu đâm trên háng vỡ thịt loe hình hoa Kèn
lúc 5 giờ chiều.
Nắng nung sức nóng làm vết thương mưng mủ …


Lorca đã chứng minh được sở trường của phái Siêu thực qua tưởng tượng nối kết những truyền thống của văn hóa về cái chết theo kiểu Tây Ban Nha. Ông “mơ thức” người bạn đấu bò đi ra khỏi cõi sống như đi vào đấu trường, gánh nỗi chết trên đôi vai: Por las gradas sube Ignacio / con toda su muerte a cuestas. 
( Ingacio bước từng bước lên / hai vai gánh nặng đầy nỗi chết.)

La piedra es una frente donde los suenos gimen
sin tener agua curva ni cipreses helasdos.
La piedra es una espalda para llevar al tiempo
con árboles de lágrimas y cintas y planetas.
( Trích Cuerpo presente, câu 146-150)
Bia mộ như vầng trán chứa giấc mơ thở than
không dòng sông không hàng thông giá lạnh.
Bia đá như đôi vai gánh chịu thời gian
cùng cây nhỏ lệ, băng tang và tinh tú


Hình tượng bia mộ dựng trên dầu của người chết nằm giữa cảnh hoang vu lạnh lẽo, chịu đựng thời gian không biết bao lâu, cái gọi là thiên thu cô đơn, trong ảo mơ của Lorca chạm vào tâm linh người đọc. Rồi có lúc, mọi người cũng chui vào cái thiên thu kia. Khả năng “mơ thức”, có thể gọi là daydream, một loại hình ảnh, câu chuyện xảy ra trong tâm tưởng của con người. Cũng là bản chất của tưởng tượng cộng với xuất thần, cũng là kho tàng của sáng tác. Làm cách nào để mở cửa kho tàng này và làm thế nào để chở báu vật vào thơ, là cấp bực tài năng của thi sĩ. Giá trị sáng tác nằm ở đây, không phải nằm ở những lý thuyết chỉ dùng cho khoa bảng nhâm nhi.

Trong Điếu Ca cho Ignacio, ông đã vận chuyển những hình ảnh mơ thức vào thơ, làm tăng sự ảo diệu của ngôn ngữ, làm phong phú tứ thơ và làm thâm trầm ý nghĩa. Quan trọng nhất là cho tâm tình phiêu hốt ngoài giới hạn của thực tế.
Trong mỗi phần của bốn phần thơ Điếu Ca, Lorca đã tạo cho mỗi phần mỗi trọng tâm làm hấp lực và bốn trọng tâm này phối hợp với nhau để làm cho thơ về cái chết thêm ý nghĩa cả bề rộng lẫn bề sâu. Không phải chỉ là cái chết thân xác của Ignacio mà sâu sắc hơn là cái chết tâm linh của Lorca.

 Hấp lực trong phần đầu: La cogida y la muerte, Đấu bò và cõi chết, là câu: a las cinco de la tarde, lúc 5 giờ chiều. Phần đầu gồm 52 câu, câu đúng năm giờ lập lại 25 lần nguyên văn và 1 lần gần nguyên văn, A las cinco en punto de la tarde.
Trong khung cảnh của buổi liệm tang, câu lúc 5 giờ chiều, đều đều vang lên, nhàm chán nhưng mênh mông như tiếng cầu kinh: Xin Chúa thương xót chúng con. Xin cho linh hồn … được lên chốn nghỉ ngơi.
Nam mô a di đà Phật. Đều đều kéo tâm trí của người đọc và tâm tư của người viết về lại với cõi chết của Ignacio và Federico. Tiếng đều đều này còn có công dụng làm cho tâm tư lắng đọng, chìm dần theo âm điệu, vào chốn buồn buồn ngây ngây.

 Trong phần hai, La sangre derramada, Máu chảy, là tứ tưởng trong câu: Que no quiero verla!, Không, tôi không muốn nhìn!. Một sự phủ nhận hiện thực làm cho thực tế thêm bi xót. Lorca từ chối không muốn nhìn thấy máu của Ignacio đã đổ vung vãi trong đấu trường, trên đường đến bệnh viện, trong vô hình của những nơi quen thuộc. Ông càng phủ nhận chừng nào thì tiếng vang càng dội lên mạnh mẽ. Phần thơ này nhờ đó mà đạt được sự bi phẫn.


 Trong phần ba, Cuerpo presente, Xác thân còn đó, hấp lực nằm trong ý tưởng quay về hiện thực: Ignacio đã chết. Ông sử dụng những tứ thơ từ bia đá dựng mồ cho đến những “mơ thức” như:

Ya se acabó. La lluvia penetra por su boca.
El aire como loco deja su pecho hundido,
y el Amor, empapado con lágrimas de nieve,
se caliennta en la cumbre de las ganaderias.
( Trích Cuerpo presente, câu 103-106.)
Đã hết rồi, mưa chảy qua miệng anh
Hơi thở cuồng điên giã từ khung ngực lép
Tình yêu, tuyết rơi lệ ngấm ướt lạnh xương
chỉ sưởi ấm trên cao nguyên súc vật.


Hoặc:


aquí no quiero más que los ojos redondos
para ver ese cuerpo sin posible descanso.
(Trích câu 174-175.)
Tôi chỉ muốn thấy những con mắt mở to
nhìn thân xác anh không bao giờ yên ngủ


Lorca đã cho người đọc theo dõi một cuộc tranh đấu trong nội tâm của ông. Từ sự từ chối cái chết của Ignacio, một phản ứng của tâm lý khi lòng yêu thương bị mất mát lớn lao, cho đến khi phải chấp nhận hiện thực: Ignacio đã chết.

No quiero que le tapen la cara con panuelos
para que se acostumbre con la muerte que lleva.
Vete, Ignacio: No sientas el caliente bramido.
Duerme, vuela, reposa: También se muere el ma!
(Trích câu 192-195.)
Tôi không muốn phủ khăn tay lên mặt anh
sợ gián đoạn đường anh về cõi chết.
Đi đi thôi, Ignacio!
Đừng níu kéo tiếng bò hừng hực rống.
Hãy ngủ say, bay cao, nghỉ yên:
Biển cũng đã chết!

 Trong phần cuối, Alma ausente, Vắng bóng linh hồn, hấp lực cài từ câu: porque te has muerto para siempre, vì anh chết đã trở thành miên viễn, để đưa vào đoạn kết, thăng hoa hóa cái chết của Ignacio như một dũng tướng, thà chết ngoài sa trường, không chết trên giường bệnh.

Tardará mucho tiempo en nacer, si es que nace,
un andaluz tan claro, tan rico de aventura.
Yo canto su elegancia con palabras que gimen
y recuerdo una brisa triste por los olivos.
(Trích Alma ausente, câu 217-220.)
Còn lâu lắm, nếu như thế, sẽ thấy
một người Andalusia vươn cao, rất đỗi phiêu lưu.
Tôi ca ngợi phong cách ông với lời than thở
để nhớ người qua rặng Ô-liu, gió thì thào
.

Lorca “bào chữa” sự mất mát bằng thăng hoa cái chết của Ignacio là một anh hùng đấu bò nổi tiếng khắp Tây Ban Nha, nhất là ở vùng phương nam, nơi đấu bò được xem như là niềm kiêu hãnh. Một người anh hùng như vậy, không thể chết trên giường bệnh. Phải chọn cái chết kiêu hùng để người đời sau tưởng nhớ.
Và cái chết của Ignacio như vậy là xứng đáng.

Chung cuộc, Điếu Ca cho Ignacio Sanchez Mejías là bốn bài thơ, nối lại thành một trung ca. Điểm nhấn ở đây là phương pháp nối bốn đoạn thơ. Mỗi đoạn thơ diễn đạt mỗi góc cạnh nhìn khác nhau từ chứng kiến quan sát và cảm nhận qua đến sự biểu hiện tâm trạng của tâm lý mâu thuẫn rồi kết thúc bằng sự ngợi ca một cách bi thiết. Những góc nhìn phối lại với nhau cho người đọc một câu chuyện nội tâm với những chi tiết văn vẻ và một bài điếu ca giá trị.

Người đọc sẽ tìm thấy sự thành công của điếu ca này không những chỉ là kỹ thuật diễn đạt đặc thù và cao kỳ mà quan trọng hơn là nghệ thuật vận chuyển tự nhiên, đôi lúc xuất thần. Hơi thơ lúc dồn dập lôi kéo người đọc không kịp đọc, lúc chậm rãi kềm hãm tốc độ cảm xúc, lúc thâm trầm để chìm lắng suy tư. Cho dù đến thời điểm này, những ưu tú của thơ Lorca đã quen thuộc nhưng không phải vì vậy mà kém phần hay đẹp. Như một mỹ nhân luống tuổi, dù tóc bạc da nhăn nhưng mỗi khi nhìn lại tấm hình chụp lúc tuổi đôi mươi. Này, biết bao nhiêu kẻ bồi hồi!

Trích  Điếu ca cho Ignacio Sánchez Mejías

1. Đấu Bò và Cõi Chết

Năm giờ chiều.
Đúng 5 giờ chiều.
Thằng bé đến mang khăn liệm trắng
lúc năm giờ chiều.
Lá chanh chờ ướp rửa xác thân
lúc năm giờ chiều.
Xung quanh tang tóc, như cõi chết
lúc năm giờ chiều.
Gió bay xơ vải buồn phất phơ
lúc năm giờ chiều.
Rỉ hoen trên long lanh kền ố
lúc 5 giờ chiều.
B ồ câu vùng v ẫy ch ống báo r ừng
lúc 5 gi ờ chi ều.
Trên háng dấu s ừng bò đâm l ủng
lúc 5 gi ờ chi ều.
Dây tr ầm âm s ầu r ợn b ắt đầ u
lúc 5 gi ờ chi ều.
Ti ếng chuông đồng thi ếc rung hương khói
lúc 5 gi ờ chi ều.
Một góc ng ồi, người l ặng l ẽ bên nha u
lúc 5 gi ờ chi ều.
Ôi, con bò th ở nh ịp tim xung động!
lúc 5 gi ờ chi ều.
Khi m ồ hôi l ạnh r ịn trên người
lúc 5 gi ờ chi ều.
Khi đấu trường tung tóe thu ốc tr ị thương
lúc 5 gi ờ chi ều.
Là m ầm ch ết n ảy sinh t ừ thương tích
lúc 5 gi ờ chi ều.
Năm gi ờ chi ều.
Đúng 5 g i ờ chi ều.

Giường rung r ẩy như quan tài di động
lúc 5 gi ờ chi ều.
Tai còn vang ti ếng sáo, ti ếng gãy xương
lúc 5 gi ờ chi ều.
Ti ếng bò r ống hung hăng trên v ầng trán
lúc 5 gi ờ chi ều.
Cho căn phòng r ực r ỡ s ắc kh ổ đau
lúc 5 gi ờ chi ều.
Mùi t ử khí v ội t ừ xa ph ảng ph ấ t
lúc 5 gi ờ chi ều.
D ấu s ừng đâm loe th ịt tươi như hoa
lúc 5 gi ờ chi ều.
Thương tích cháy như m ặt tr ời đỏ
lúc 5 gi ờ chi ều,
r ồi đám người xô đẩy c ửa ch ịu tang
lúc 5 gi ờ chi ều.
Hỡi ơi, năm gi ờ chi ều.
Th ảm kh ốc thay lúc năm gi ờ chi ều!
Tất c ả đồng h ồ ch ỉ đúng 5 gi ờ chi ều!
Năm gi ờ chi ều c ủa hoàng hôn u t ối!



Nguyên tác tiếng Tây Ban Nha

1. La cogida Y La Muerte

A las cinco de la tarde.
Eran las cinco en punto de la tarde.
Un niño trajo la blanca sábana
a las cinco de la tarde.
Una espuerta de cal ya prevenida
a las cinco de la tarde.
Lo demás era muerte y sólo muerte
a las cinco de la tarde

El viento se llevó los algodones
a las cinco de la tarde.
Y el óxido sembró cristal y níquel
a las cinco de la tarde.
Ya luchan la paloma y el leopardo
a las cinco de la tarde.
Y un muslo con un asta desolada
a las cinco de la tarde.
Comenzaron los sones de bordón
a las cinco de la tarde.
Las campanas de arsénico y el humo
a las cinco de la tarde.
En las esquinas grupos de silencio
a las cinco de la tarde.
¡Y el toro solo corazón arriba!
a las cinco de la tarde.
Cuando el sudor de nieve fue llegando
a las cinco de la tarde
cuando la plaza se cubrió de yodo
a las cinco de la tarde,
la muerte puso huevos en la herida
a las cinco de la tarde.
A las cinco de la tarde.
A las cinco en Punto de la tarde.

Un ataúd con ruedas es la cama
a las cinco de la tarde.
Huesos y flautas suenan en su oído
a las cinco de la tarde.
El toro ya mugía por su frente
a las cinco de la tarde.
El cuarto se irisaba de agonía
a las cinco de la tarde.
A lo lejos ya viene la gangrena
a las cinco de la tarde.
Trompa de lirio por las verdes ingles
a las cinco de la tarde.
Las heridas quemaban como soles
a las cinco de la tarde,
y el gentío rompía las ventanas
a las cinco de la tarde.
A las cinco de la tarde.
¡Ay, qué terribles cinco de la tarde!
¡Eran las cinco en todos los relojes!
¡Eran las cinco en sombra de la tarde!



Bản tiếng Anh của Brian Cole

1. The Goring and the Death


In the afternoon at five.
It was afternoon, exactly at five.
A boy brought in the white sheet
in the afternoon at five.
A basket of lime was standing ready
in the afternoon at five.
The rest was death and only death
in the afternoon at five.

The wind carried off the balls of lint
in the afternoon at five.
And the chloride glittered nickel and crystal
in the afternoon at five.
Now the dove struggles and the leopard
in the afternoon at five.
And a gored thigh with the bull’s horn
in the afternoon at five.
There began the sound of a bass string
in the afternoon at five.
The bells of arsenic and the smoke
in the afternoon at five.
In the corner groups of silence
in the afternoon at five.
And the bull stood alone with head held high
in the afternoon at five.
When the snowy sweat was starting
in the afternoon at five.
when the sand was covered with iodine
in the afternoon at five.
Death laid her eggs in the wound
in the afternoon at five.
In the afternoon at five.
In the afternoon exactly at five.

A coffin on wheels is the bed
in the afternoon at five.
Bones and flutes sound in his ears
in the afternoon at five.
The bull was bellowing in his face
in the afternoon at five.
The room was rainbowed with agony
in the afternoon at five.
Already gangrene comes from afar
in the afternoon at five.
A lily trumpet through his green loins
in the afternoon at five.
The wounds were burnng like suns
in the afternoon at five.
and the crowd broke the windows
in the afternoon at five.
In the afternoon at five.
How terrible this afternoon at five!
It was five o’clock by all the watches!
The afternoon was in shadow at five!

 

Please follow and like us:

Leave a Reply

Your email address will not be published.