Dịch Thuật: Những Mô Hình Mới-NGU YÊN

Mặc dù có rất nhiều nổ lực để thống nhất những lý thuyết dịch, nhưng dường như không có kết quả. Những nhà nhân chủng học và ngôn ngữ học nghi ngờ, ý tưởng xây dựng một lý thuyết đáng tin cậy, tuy quan trọng trên luận lý, nhưng không hữu hiệu trong thực tế. Ngược lại, sự nở rộ của lý thuyết là động lực phát triển nhanh, cần thiết cho dịch thuật tiếp cận những khai phá.

 

Thay vì tìm cách kết hợp các lý thuyết, một số học giả nhắm tới việc xây dựng những hệ thống mô hình, tạo ra phương pháp và thủ tục, áp dụng vào dịch thuật một cách cụ thể hơn. Dựa trên kinh nghiệm của các học giả, giáo sư Simon Chau tóm lược tình hình: “… Có thể gây nên hiểu lầm khi nói về những lý thuyết dịch như thế này, như thể theo những mô hình lý thuyết phát triển thích hợp hoặc những kết quả cụ thể được dò xét cẩn trọng bởi các nhà thực hành…Sau cùng, người ta đã nhắc nhở nhiều lần, không có lý thuyết dịch nào [hữu hiệu] đáng kể. Sự tồn tại, khả năng, và giá trị của lý thuyết dịch bị rơi vào vòng nghi vấn. Có thể hữu ích hơn để tóm lược về những quan điểm khác nhau trên vấn đề này, do các nhà ngôn ngữ học và các lý thuyết gia về dịch, đặt ra.”

 

Ba mô hình: Simon Sui-cheong Chau.

Simon Sui-cheong Chau đưa ra ba mô hình về dịch, chủ yếu nghiên cứu dựa trên thực hành: 1-Mô Hình Ngữ Pháp, 2- Mô Hình Văn Hóa, 3- Mô Hình Diễn Giải. Theo Chau, các phương pháp trong mỗi mô hình là phương tiện riêng biệt áp dụng cho một mô hình cụ thể, căn cứ trên nhãn quan thực tế hoặc quan điểm đối với diễn trình dịch thuật. Simon Chau dùng từ “mô hình” nhưng thực tế là một loại “lý thuyết”. nếu gọi như vậy, cũng không sai. Mặc dù, sự tranh luận cho rằng mô hình được nhìn cụ thể hơn trong áp dụng; lý thuyết tự bản thân, đã mơ hồ. Ông định nghĩa mô hình: “Sự tương tựa trong chi tiết và hệ thống được xây dựng để hình dung vài khía cạnh hoặc chức năng của ngôn ngữ, mà không thể quan sát trực tiếp, trong ý nghĩa có thể bị bỏ sót. Nói một cách khác, đây là sự trung gian giữa những quan niệm rất tổng quát của lý thuyết và những quan niệm rất cụ thể của giả thuyết.” (Shaeen 1991: 17.)

 

Mô hình của Chau là quan niệm thực dụng hơn hệ thống của Nida, được xem là một trong những giả thuyết mới nhất.

 

1- Mô Hình Ngữ Pháp (The grammatical Model).

 

Cách tiếp cận này xem dịch thuật là một hoạt động thuần túy của ngôn ngữ. Các tính năng đặc biệt của mô hình này là sự kết hợp giữa dịch và chuyển dịch văn phạm. Như vậy, ngôn ngữ được cụ thể hóa thành ngữ pháp. Dịch không có gì khác hơn là thay thế từ vựng, văn phạm của ngôn ngữ này sang từ vựng, văn phạm của ngôn ngữ khác.

Theo Chau, cách dịch này tập trung vào cấu trúc của ngữ pháp, dù ý nghĩa lỏng lẻo. Nhiệm vụ của dịch được xem như chuyển biểu tượng này sang biểu tượng kia. Đối tượng cơ bản là ký hiệu ngôn ngữ, được chuyển từ mã hiệu (code) gốc sang mã hiệu dịch. Đơn vị chuyển dịch là từ ngữ hoặc câu. Nhắm vào ngôn ngữ viết hơn là ngôn ngữ nói.

Mô Hình Ngữ Pháp chủ yếu dịch sát nghĩa với sự lùi bước trước những khác biệt văn hóa giữa hai ngôn ngữ. Ví dụ, “grilled steak” = “thịt bò nướng.” Còn “thịt bò né”, (người chiên phải né khi dầu nóng bắn cao,) = “fried beef”; có điều, người ngoại quốc khó hiểu vì lối chiên “văn minh” không bị bỏng dầu; nên chữ “né”, dịch làm sao?

Chau chia ra làm hai loại Mô Hình Ngữ Pháp:
▪ Mô Hình Ngữ Pháp Truyền Thống (The

Traditional Grammar Method): Phương pháp này theo cách ứng dụng của truyền thống ngữ pháp, đã ngự trị cho đến thế kỷ 20. Quan niệm này mặc nhiên chấp nhận sự phổ thông, tính phổ quát trong tâm trí của loài người. Giả định rằng tất cả chúng ta đều có những suy nghĩ về vũ trụ, vạn vật trong một cách thế chung nào đó. Những khái niệm phổ quát này được sắp xếp vào một ngôn ngữ cụ thể, trong mô hình mẫu chung, ý nghĩa chung, mà người dịch có thể tìm thấy qua nhiều ngôn ngữ khác biệt. Ví dụ như con chó, chien, dog, perros, psy, 狗, สุนัข,köpekler….. đều biết sủa, biết vẫy đuôi….

Phương pháp này bắt đầu từ ngữ pháp Hy Lạp, qua ngữ pháp Latin, kéo dài về sau. Chủ yếu cho rằng dịch là tìm kiếm từ vựng tương đương trong ngôn ngữ dịch, câu tương đương câu trong ngữ pháp.

Phương pháp này được sử dụng trong sư phạm cho những người dịch mới bắt đầu. Sự đào tạo căn bản vững chắc về dịch vẫn là sự chính xác tối đa và chỉ thay đổi khi thật sự cần thiết. Công việc dịch trên căn bản là thay thế. Sự thay thế là quyết định chọn lựa trên những yếu tố và thành phần văn bản cụ thể.
▪ Mô Hình Ngôn Ngữ Chính Thức (Formal

Linguistic Method). Phương pháp này phát triển theo sự phát triển của ngôn ngữ học về cấu trúc, vào khoảng thập niên 1960. Hầu như đối nghịch với Mô Hình Ngữ Pháp. Mô hình này chú trọng mô tả, diễn đạt hơn là theo sát qui tắc. Dùng phân tích theo âm vị, hình thái và cú pháp. Đặt trọng tâm lên những cách diễn tả của văn phạm để giải thích ý nghĩa một cách tự nhiên. Khuynh hướng mới cho rằng không có tương đương chính xác giữa các ngôn ngữ.

Được chứng minh bởi các kết quả nghiên cứu từ nhân chủng học và văn hóa học. Càng vềsau, những khám phá mới về cấu trúc văn bản, chức năng văn hóa, thông đạt xã hội, càng làm cho dịch trong Mô Hình Chính Thức thêm phức tạp và khó khăn.

 

Nhiều ngôn ngữ không có giới tính, những ngôn ngữ có, thông thường là vô dụng vì không phải ngữ nghĩa một cách nhất quán, và có những phức tạp không cần thiết bởi nó đòi hỏi sự thỏa thuận phù hợp với tính từ và danh từ. Trong khi hầu hết những ngôn ngữ Âu Châu chỉ có hai giới tính như Pháp, Ý, Tây Ban Nha; có ba, như Latin, Hy Lạp, Đức, Nga. Còn Salish, ngôn ngữ của thổ dân ở California có đến sáu giới tính. Navajo có mười hai và vài ngôn ngữ Bantu có từ hai mươi lăm đến ba mươi…[…] Một số ngôn ngữ, như Tarahumaras ở miền bắc Mexico không phân biệt số ít số nhiều. Trong khi Fijian có bốn hệ thống dùng cho đại từ chỉ ngôi thứ…” (Despatie.)

 

Trong thực tế, cả hai phương pháp của Mô Hình Ngữ Pháp không thoả đáng khi áp dụng vào dịch thơ. (Shaeen 1991: 18.) Dịch thơ nghiêng về dịch văn hóa và dịch thẩm mỹ.

 

2- Mô Hình Văn Hóa (The Cultural Model)

 

Căn cứ vào quan điểm ngôn ngữ là văn hóa. Dịch là diễn tả và giải thích tầm nhìn của thế giới từ người này đến người khác. Bên dưới của nhãn quan này là thuyết Ngôn Ngữ Tương Đối, đã hiện diện trong đầu thế kỷ 20 với Edward Sapir và Benjamin Lee Whorf. Chủ yếu xem xét ý nghĩa trong lãnh vực văn hóa dịch đối với ý nghĩa văn bản gốc. Sapir viết: “Không có hai ngôn ngữ đầy đủ yếu tố tương tựa để xem như đại diện cho một thực tại xã hội giống nhau. Mỗi thế giới nơi những xã hội khác nhau sinh sống, là những thế giới khác biệt, không phải đơn thuần là thế giới giống nhau, chỉ khác vì nhãn hiệu.”(Shaeen 1991:23.) Sự khác biệt sâu xa về nguồn gốc và rộng rãi của cơ cấu văn hóa, đã tạo ra sự khó khăn lớn cho dịch thuật. Dựa vào những kết quả của dịch đa văn hóa, sự trở ngại ăn sâu vào lãnh địa đa tư tưởng, đa tôn giáo, đa xã hội, đa chính trị, đa giáo dục, và đa kinh tế. Chau chia mô hình này ra làm hai phương pháp:

▪ Phương Pháp Ngữ Nghĩa Dân Tộc (The Ethnographical Semantic Method.) Đối với các nhà dân tộc học, ý nghĩa văn bản theo phân loại truyền thống trong thành phần của ngôn luận, là không thỏa đáng. Họ tin rằng ý nghĩa văn bản sinh hoạt trong giới hạn văn hóa và không thể tách rời khỏi ngôn ngữ. Gerald Despatie trong tác phẩm Modern Linguistic Research Applied to The Process of Translation, năm 1967, viết rằng: “…đã được phát hiện, mỗi ngôn ngữ thể hiện không chỉ là phân loại khác nhau về thực tại. Mỗi ngôn ngữ phản ảnh, thậm chí ảnh hưởng lên người nói, những cách khác nhau khi phân tích kinh nghiệm. Kết luận, mỗi ngôn ngữ như một phần của một văn hóa đặc thù, chỉ có thể hiểu rõ trong môi trường văn hóa của ngôn ngữ đó.”

 

Ví dụ, trong Kinh Thánh nói đến ngày tận thế, có câu viết: “Tách rời những con cừu ra khỏi đàn dê.” Có thể hiểu ẩn dụ này khá rõ ràng, tách rời người thánh thiện ra khỏi người tội lỗi. Đem ẩn dụ này sang Phi Châu, khó được chấp nhận vì ở Trung Phi, cừu rẻ tiền hơn dê. Ở Tây Phi dân cư quen với khí hậu nóng nực. Ý niệm hỏa ngục là nơi lửa cháy, không làm họ kinh sợ cho bằng nơi lạnh giá triền miên. (Châu 1991: 134.) Dịch không phải chỉ dịch ý, còn phải dịch kinh nghiệm đính kèm theo từ ngữ hoặc cả câu viết.

 

Kết luận, luôn luôn có khoảng cách giữa hai ngôn ngữ, mà không phải lúc nào cũng có thể bắt cầu, nối nhau. Phương pháp này nỗ lực thâu hẹp khoảng cách và kinh nghiệm có thể sẽ làm cho sự cách biệt trở thành không đáng kể.

 

Một số khác, mở rộng hơn, cho rằng những khoảng cách khác biệt giữa hai văn hóa, không phải là vấn đề. Theo như Casagrande: “Bất chấp những khó khăn khác nhau ngăn chận trên đường dịch thuật….Sự thật là thông tin vẫn được truyền đạt qua những cản trở của ngôn ngữ. Ý muốn của tác giả diễn đạt trong một ngôn ngữ, có khả năng diễn đạt lại bằng ngôn ngữ khác, mà vẫn có giá trị cao và thấu hiểu. Nếu có sự mất mát thông tin trong khi chuyển đổi mã hiệu, điều này cũng như sự mất mát thông tin xảy ra khi trao đổi giữa những người dùng cùng chung một ngôn ngữ, đặc biệt nếu họ thuộc về nhiều địa phương có văn hóa đặc thù.” [ ví dụ: sự khác biệt trong cùng ngôn ngữ Việt, giữa bắc trung nam.]

Phương pháp này sử dụng thủ thuật Phân Tích Thành Phần (Componential Analysis), tìm kiếm

ý nghĩa từng từ ngữ, nhất là những từ ngữ nòng cốt trong câu. Điều này, giúp dịch giả dễ hiểu những ẩn ý và tìm sự tương tương giữa hai ngôn ngữ. Công việc này cũng có khó khăn riêng, dù rất căn bản, ví dụ ngôn ngữ Châu phi không có từ chỉ màu vàng như yellow trong Anh ngữ. Sự sáng tạo trong ngôn ngữ địa phương trở thành màu “lá chín”, tức là màu lá trước khi khô, để chỉ màu vàng.

▪ Phương Pháp Tương Đương Đa Năng (The Dynamic Equivalence Method). Phương pháp này được biết từ xưa, dưới tên gọi “Nguyên Tắc của Hiệu Quả Tương Đương” (The principle of Equivalence Effect) hoặc là “Dịch Thông Đạt” (Communitative Translation) của

Newmark. Phương pháp này tìn rằng ngôn ngữ có nhiều điểm tương đồng và những gì có thể nói trong ngôn ngữ này sẽ nói được trong ngôn ngữ khác. Theo phương pháp này, hiệu quả cuối cùng không chỉ là bản dịch với thông tin, mà là bản dịch với ý nghĩa tương đương. Và thay vì chú trọng đến sự mâu thuẫn giữa hai văn hóa, sự chú trọng đặt vào phản ứng của người đọc. Nói một cách khác, Làm sao để người đọc bản dịch có phản ứng tương đương với người đọc bản chính. Theo Werner Koller, người dịch nên tạo ra hiệu ứng tương tựa trên độc giả của mình như tác giả đã tạo ra hiệu quả cho người đọc bản chính. Một ví dụ khá thú vị: Khi dịch Kinh Thánh sang ngôn ngữ Eskimo, dịch giả thành công khi dịch “lamd of God” ( con chiên của Chúa) sang tiếng Eskimo có nghĩa “seal of God” (con hải cẩu của Chúa), vì hải cẩu thông dụng với dân tộc này. Theo tinh thần của ví dụ, dịch sang tiếng Eskimo thế nào, câu sau đây: “The Lord is my shepherd?” Có thay thế bằng người săn hải cẩu, được chăng? (Chau 1991: 141.)

3- Mô Hình Diễn Giải (The Interpretive Model)

Vào khoảng thập niên 70, ngôn ngữ học đóng vai trò quan trọng trong lãnh vực thông đạt. Cấu trúc của ngôn ngữ là đối tượng nghiên cứu. Mối quan tâm nhắm đến hình vị, từ ngữ, hoặc những câu riêng biệt được xem như đơn vị nghiên cứu của ngôn ngữ.

Cùng một lúc, có sự thay đổi lớn trong ngôn ngữ hiện đại, theo khuynh hướng nhấn mạnh về mức độ của lời nói thay vì câu viết. Simon Chau nhận định: “ Việc chú trọng vào lời nói đã trở nên rõ ràng theo sự phát triển mạnh mẽ của ngôn ngữ trong văn bản, kể từ thập niên 70. Trong phạm vi của nó, những khu vực nghiên cứu khác nhau, bao gồm phân loại văn tự, ngữ pháp hành văn, lý thuyết văn bản, đã thu hút được sự nhiệt tình quan tâm.”

Khuynh hướng mới này, được Bassnett – McGuire tóm lược vào các tính năng tiêu biểu:

1- Văn bản được xem là đơn vị thích đáng cho việc kiểm tra.

2- Ý nghĩa được nghiên cứu trong mối liên hệ đồng văn bản và văn cảnh.

3- Nỗ lực khám phá các mẫu văn của cấu trúc phổ quát, được thực hiện trên văn bản cùng loại.

4- Vai trò của độc giả như nhà sản xuất, đánh giá lại văn bản, thay vì chỉ tiêu thụ bản dịch.

Simon Chau xác định hai quan điểm phổ biến hiện đại:

1- Phương Pháp Phân Tích Văn Bản (The Text Analysis Method.)

2- Phương Pháp Thông Diễn (The Hermeneutic Method.)

▪ Phương Pháp Phân Tích Văn bản dựa trên lý thuyết ngôn ngữ học và những lãnh vực lân cận như ngữ nghĩa học, xã hội học, phê bình học….. và thông đạt học. Chú trọng giải thích văn cảnh hoặc theo mạch văn. Dịch giả phân tạo văn bản gốc. Đối với phương pháp này, vai trò chữ không quan trọng bằng vai trò mạch văn. Cố gắng tách rời ý nghĩa từ ngữ ra khỏi mạch văn, sẽ gây ra những khoảng cách bất khả dịch trong ngôn ngữ dịch. Trọng tâm của phương pháp này chính là toàn thể văn bản. Sử dụng những kỹ thuật so sánh văn phạm, so sánh tính năng dân tộc, so sánh xã hội , so sánh phong cách, so sánh ký hiệu….cùng lúc

quan tâm đến thông đạt. Dịch được xem một tiến trình từ tác giả, qua dịch giả đến độc giả ngôn ngữ dịch.

▪ Phương Pháp Thông Diễn. Phương pháp này hoàn toàn khác với những phương pháp đã trình bày. Thay vì dựa vào khuynh hướng ngôn ngữ hoặc những liên hệ thân cận, phương pháp này phát xuất từ triết học của Đức quốc, Existential Hermeneutics, với hai tên tuổi lớn trong nền triết học thế giới là Martin Heidegger và Hans-Georg Gadamer.

Trong khi những phương pháp khác sử dụng tri thức, Phương Pháp Thông Diễn sử dụng bản thể trong tính triết học để giải thích văn bản gốc trên tầm mức siêu hình (metaphysic). Lý luận rằng dịch không phải chỉ đơn thuần tái tạo ý nghĩa tiềm ẩn trong văn bản như các nhà phân tích văn bản đã làm; Văn bản thay vì là đối tượng, nay trở thành đồng-chủ ngữ, mà dịch giả là giải mã viên, chìm lặn vào cuộc độc thoại

để sáng tạo ý nghĩa mới. Phương pháp này đứng vào vị trí đối nghịch với những phương pháp khác, nhưng lại giúp bổ túc cho nhiều thiếu sót của những phương pháp khác.

Đa số khuynh hướng cho rằng, ngôn ngữ là phương tiện để diễn tả. Ngôn ngữ là công cụ của loài người. Trong quan niệm Thông Diễn, con người là dụng cụ của ngôn ngữ. Khi nói, chúng ta chìm đắm bản thân vào năng lượng một cách sinh động, làm cho con người đúng nghĩa làm người. Để hiểu được người khác hoặc hiểu điều gì, chúng ta nghe họ nói, rồi hai bên ráp vào đối thoại, từ đó, những ý nghĩa được tạo thành. Sự hiểu biết một văn bản sẽ không bao giờ bắt đầu, nếu nó câm lặng. Tuy nhiên, khi nó khởi sự nói, nó sẽ không luôn luôn nói những lời giống nhau, suốt cuộc sống vô hồn của nó. Nó sẽ trả lời những ý nghĩa mới cho những ai đặt câu hỏi mới. Tìm hiểu một văn bản là tìm đến để tự hiểu bản thân trong một thể loại đối thoại. Sự tranh luận này được xác nhận bởi thực tế, trong sự giao dịch cụ thể với văn bản, mang lại sự hiểu biết. (Chau 1984: 151.) Nói một cách khác, đọc sách như là câu nói, không thể hai lần cùng tắm trong một dòng sông. Luôn luôn sẽ có ý nghĩa mới, nếu chúng ta đối thoại với sách một lần nữa.

Quan điểm hiểu biết “khách quan” của Phương Pháp Phân Tích Văn Bản bị từ chối và khả năng đọc hợp nhất bị loại trừ. Phương pháp này giúp cho dịch giả thấu hiểu hơn văn bản gốc. Những thấu hiểu này đã được Simon Chau xác định:

1- Không có sự hiểu biết thật sự khách quan.

2- Chấp nhận những định kiến vì không thể tránh né. Đôi khi, định kiến rất cực đoan.

3- Không có sự đọc nào dứt khoát hoặc cuối cùng. (dù đọc cùng một cuốn sách bao nhiêu lần, sẽ thấy và cảm khác biệt bấy nhiêu.)

4- Dịch không thể thay đổi ý nghĩa của bản gốc.

5- Không có bản dịch nào đại diện hoàn toàn cho văn bản gốc.

6- Sự hiểu biết không phải lúc nào cũng có thể bày tỏ, giải thích.

 

[còn tiếp]

Please follow and like us: