Bí ẩn Ấn Độ-MC AMMOND NGUYỄN THỊ TƯ

bên ngoài lớp học:
Những Người Giới Tính Thứ Ba
Anh học viên Hàn Quốc chưa hoàn hồn khi kể lại sự cố xảy ra trên đường Lakshmi khu vực trung tâm thương mại. Hai phụ nữ Ấn Độ trong bộ sari sặc sỡ, phấn son diêm dúa, vòng vàng đeo đầy người, chặn anh lại xin 100 ru-pi. Anh từ chối. Một cô giơ tay bẹo lên má anh, xong tuôn ra cả tràng ngôn ngữ anh không hiểu, vẻ tức giận. Rồi bất ngờ, cả hai cô cùng kéo hất vạt áo sari lên, phô ra phần cơ thể đã bị cắt trụi của đàn ông. Đám trẻ con gần đó rộ lên cười. Anh bỏ đi như chạy, vừa xấu hổ vừa sợ hãi.
Guru bảo hai người anh tưởng phụ nữ đó là hijras, những người đàn ông bị hoạn. Có trường hợp bẩm sinh, có trường hợp sinh ra với cơ cấu sinh dục nam nhưng tính cách con người lại phát triển như nữ. Không ít hijras từ nhỏ bị gia đình ruồng bỏ vì sức ép của dư luận xã hội, đã bỏ trốn lên thành phố, trải qua nghi thức cắt bỏ dương vật và tinh hoàn của mình để gia nhập vào quần thể của những người cùng cảnh ngộ. Toàn nước hiện nay có hơn một triệu hijras sống trong những cộng đồng riêng. Đông nhất là ở các thành phố lớn như Mumbai, Chennai, Kolkata và Delhi. Không còn vai trò của một tầng lớp được sủng ái và trọng dụng trong chốn cung đình của người Hinđu và cả trong giới cầm quyền Hồi giáo của bao thế kỷ xưa, những “hoạn quan” trong xã hội Ấn Độ đương thời bị kỳ thị nặng nề, bị tước bỏ nhiều quyền lợi của một công dân. Mặc dù người ta tin rằng hijras được thần thánh ban cho quyền năng đặc biệt là có thể đem đến lời chúc phúc hoặc lời nguyền độc, nhưng thái độ chung của xã hội là ghê sợ và tìm cách né tránh họ. Ở các bến xe, nhà ga, hijas thường bị sỉ vả, uy hiếp. Phần lớn họ phải kiếm sống bằng cách ăn xin, bán thân, canh giữ các nhà chứa, hoặc ban phước lành ở tiệc mừng trẻ mới sinh, đám cưới, tân gia, hoặc khởi công xây nhà, khai trương buôn bán. Một số nhà băng thuê họ đòi nợ. Tưởng tượng cảnh một nhóm hijras trong những bộ áo sari lộng lẫy kéo đến trước cửa nhà con nợ múa hát, vỗ tay, gào thét. Rất có hiệu lực. Vì không ai đợi đến lúc lời rủa độc địa phát ra từ miệng họ “Con trai nhà ngươi sẽ là một hijra!”
Hijras hiện nay vẫn là một vấn nạn ở Ấn Độ. Những năm gần đây các cộng đồng hijras liên tục tranh đấu để không bị kỳ thị khi xin việc, không bị hiếp đáp bởi cảnh sát và dân chúng, và được sống như những người bình thường khác.

câu chuyện trong lớp:
Có Lẽ Vậy 

Người đàn ông nọ có một con ngựa. Một hôm con ngựa sổng chuồng chạy mất. Hàng xóm đến nói:
“Ông thì già, vợ chết, con trai lại còn nhỏ, ông cần con ngựa giúp mọi việc ở nông trại. Bây giờ mất nó rồi, ai sẽ làm cho ông đây? Thực là một bi kịch.”
“Có lẽ vậy,” người đàn ông nói.
Mấy ngày sau, con ngựa của ông thình lình quay trở lại với 12 con ngựa hoang. Ông vội đóng cổng chuồng nhốt cả bầy ngựa bên trong.
Hàng xóm đến nói:
“Bây giờ thì ông giàu hơn tất cả chúng tôi. Thực là một sự may mắn.”
“Có lẽ vậy,” người đàn ông nói.
Những ngày kế tiếp, ông và đứa con trai bắt đầu huấn luyện bầy ngựa hoang. Một con hất ngã đứa con trai và anh ta bị gãy chân.
Hàng xóm đến nói:
“Giờ ông đã già, con trai ông lại chẳng thể giúp gì được nữa. Thực là một bi kịch lớn.”
“Có lẽ vậy,” người đàn ông nói.
Một ngày kia, quân đội đến bắt tất cả trai tráng trong làng nhập ngũ, ngoại trừ con trai người đàn ông.
Hàng xóm đến nói:
“Thực là một sự may mắn lớn.”
“Có lẽ vậy,” người đàn ông nói.
 

bên ngoài lớp học:
Guru Mất Thẻ Tín Dụng 
 
Sau một ngày đi tĩnh tâm ở một bờ hồ vắng lặng trong khu vực công viên Sayajiraje cách Kabir Baug mấy trăm cây số, mọi người lên xe chuẩn bị ra về. Xe buýt lớn chở học viên và giáo viên. Xe hơi Tata Sumo chở guru và hai người khách trong đó có tôi, do Chandhu, tài xế của Kabir Baug lái. Guru bất chợt kêu lên rằng ông mất cái thẻ tín dụng. Ông nhớ ông đã bỏ nó lại vào ví sau khi trả tiền ở trạm xăng lúc sáng. Bây giờ ví đây, mà thẻ thì không thấy. Tin guru mất thẻ nhanh chóng truyền đến chiếc xe buýt đậu đằng trước đã bắt đầu nổ máy. Xe buýt lập tức tắt máy. Không thể bỏ đi trước. Phải chờ guru tìm ra tấm thẻ. Mọi người nhao nhác vây đến chiếc Tata Sumo trong lúc guru bắt đầu mắng nhiếc Chandhu, y như lỗi anh ta. Chandhu luống cuống lục tìm khắp ngõ ngách trong xe. Không tăm hơi. Guru giận dữ quát anh to hơn. Tôi chỉ biết vài từ tiếng Marathi, nhưng hiểu ông đang trút nỗi lo mất tấm thẻ lên đầu Chandhu. Mặt tái ngắt vì hoảng sợ người tài xế chạy ngược trở lại bờ hồ nơi guru và mọi người mới ngồi thiền trước đó xem tấm thẻ có rơi ra từ túi ông không. Anh vào cả khu vực căn-tin, nhà vệ sinh. Rốt cuộc thì chính guru đã tìm ra. Nó nằm trong chiếc cặp táp của ông. Ông đã nhét tấm thẻ vào đó lúc sáng nhưng quên. Chandhu thở hổn hển, mặt nghệch ra như người mắc tội được tha. Anh rút khăn mù xoa lau vội lau vàng mồ hôi và cả nước mắt chứa chan trên mặt anh tự lúc nào.
Không biết có phải là sự chỉ đạo của guru. Sáng hôm sau trong buổi lễ trao giấy chứng nhận mãn khóa cho học viên, đến phần đọc danh sách các ban ngành và cá nhân ở học viện đã có công lao đóng góp vào sự thành công của khóa huấn luyện, tên Chandhu được nhắc đến, sau cùng. Anh được ghi nhận đã có công chụp ảnh lưu niệm cho Kabir Baug. Bấy giờ, Chandhu đang đứng ở góc gian chánh điện với cái máy ảnh cồng kềnh đeo trước ngực. Tôi nhớ ra hôm trước ở bờ hồ anh cũng có làm nhiệm vụ đó. Nghe nói ai đó mới cho Kabir Baug cái camera chắc phải tới 20 tuổi đời, không giáo viên nào ngó tới, bảo tốn phim, cuối cùng guru đưa cho Chandhu.
Chandhu không biết tên mình được đề cập, vì không hiểu tiếng Anh. Các học viên reo ầm lên Chandhu Chandhu, rồi có người đứng gần đó nói tiếng Marathi với anh. Mặt đỏ bừng vì xấu hổ, Chandhu bước lên nhận bó hoa của ban tổ chức. Rồi như bao người khác anh quỳ phủ phục trước guru, trán anh chạm vào chân ông một cách cung kính. Guru đặt tay lên đầu anh như với bao người. Anh ôm bó hoa đi xuống trong tràng pháo tay vang dội. Mắt anh đỏ hoe. Tôi được giải thích rằng lần đầu tiên ở Kabir Baug một người ở vị trí thấp như Chandhu được hưởng cái vinh dự lớn lao ấy. Có lẽ guru muốn chuộc lại hành vi của ông về chuyện mất thẻ ngày hôm trước. Tôi nghĩ.

bên ngoài lớp học:
Hai Trăm Đồng Ru-pi

Ngày cuối ở Kabir Baug. Còn mỗi hai tờ giấy100 ru-pi, tôi quyết định cho Chandhu. Muốn đưa anh, nhưng lúc nào cũng có người chung quanh. Tôi tự nhủ chờ khi anh chở đoàn học viên Mỹ và Canada chúng tôi ra phi trường Mumbai. (Nhóm học viên Hàn Quốc đã rời từ đêm trước.) Bảy giờ tối, mọi người trong học viện tụ tập trước sân chia tay với chúng tôi. Rồi chúng tôi lần lượt leo lên xe. Vì hay bị say xe, tôi chọn ghế trên sát bên tài xế. Chandhu cùng mấy người giúp việc nữa lúi húi chất vali của chúng tôi vào xe. Kabir Baug còn gởi theo mấy chai nước suối đóng chai và các thứ bánh trái vào băng ghế sau. Guru bảo để chúng tôi không bị đói lúc chờ máy bay ở phi trường. Đồ đạc chất xong xuôi, Chandhu nói Goodbye, đưa tay vẫy, rồi đóng sầm cửa xe đằng sau lại. Tôi đang bối rối thì một người đàn ông lạ mặt mở cửa xe ngồi vào ghế tài xế. Chandhu không chở chúng tôi ra phi trường như đã kế hoạch. Hóa ra vì trời chạng vạng, chúng tôi chẳng ai nhận ra đó không phải là chiếc xe Chandhu chạy mỗi ngày. Cũng là Tata Sumo 9 chỗ ngồi, cũng màu trắng, nhưng chiếc này mới hơn. Kabir Baug đã mượn hoặc thuê nó. Có thể vì Chandhu không thạo đường đi Mumbai. Có thể Tata Sumo của Kabir Baug phải sửa chữa. Lý do gì chúng tôi không ai biết. Chandhu! Tôi bật kêu, giọng run lên. Hai tờ giấy 100 ru-pi nằm chặt trong tay tôi. Người tài xế đã nổ máy. Chiếc xe bắt đầu lăn bánh, chầm chậm. Bên ngoài, những cánh tay giơ lên vẫy chào. Tôi quay sang người lái xe, gào lên  Stop! Stop, please!  Mọi người trong xe không hiểu chuyện gì. Tôi luống cuống quay cửa kiếng xe xuống. Chandhu! Chandhu! Tôi hét to hơn. Xe thắng gấp lại. Chandhu chạy đến bên cửa xe phía tôi. Có mấy người cũng chạy theo đằng sau anh. Tôi hấp tấp với tay ra nhét vào túi áo anh hai tờ giấy bạc đã xếp nhỏ lại. “For you! ” Mặt Chandhu tái mét vì sợ. “Madam, I can’t”. Anh moi túi ra nhất quyết đưa lại cho tôi. Hai bên giằng co quyết liệt. Tôi biết anh sợ những người đang đứng cạnh anh nhìn thấy. Tôi cũng run bắn người như đang phạm tội. “It’s nothing. Keep it!” Tôi quát anh, dữ dằn như guru quát anh đêm ấy. Mặt Chandhu dại đi một cách thảm não. Tôi giúi được tiền vào tay anh. Lập tức tôi đẩy anh gần như ngã chúi ra, rồi quay kiếng xe lên, “Let’s go!” Tôi giục tài xế chạy. Giây phút ấy tôi chỉ muốn chiếc xe chúng tôi biến ra khỏi khuôn viên Kabir Baug càng nhanh càng tốt. Tôi không dám ngoái lại đằng sau. Chỉ muốn òa lên khóc. Những người trong xe đã hiểu chuyện gì xảy ra. Bàn tay ai đó từ băng ghế sau vỗ về lên vai tôi như chia sẻ. Rồi những lời bàn luận thầm thì. “Hy vọng không ai nhìn thấy.” “Qua sao nổi cặp mắt của bà vợ ông chánh văn phòng đứng sát ngay bên Chandhu.” “Chắc phải nộp vào công quỹ của Kabir Baug.” “Sợ anh ta còn bị quở trách về tội nhận tiền nữa.” “Có lẽ còn tùy thuộc số tiền bao nhiêu.”…
Hai trăm rupi. Xấp xỉ 5 đô. Không đủ mua một kẹp bánh mì sandwich ở Canada. Nhưng với thân phận những kẻ làm công ở đất nước Ấn độ như Chandhu, nó có giá trị nhiều hơn. Một người trong học viện cho tôi biết đầy tớ chung quanh thành phố Pune thường chỉ được chủ cho cơm ăn và chỗ ở, may mắn lắm mới được trả thêm 200 rupi một tháng.

**********
Về lại Canada nhiều người hỏi tôi Ấn Độ ra sao. Tôi thường bối rối vì không có câu trả lời thỏa đáng sẵn trong đầu. Đất nước mênh mông biển người như vậy. Nhìn sao thấu hết. Người bảo đó là đất nước của nền văn minh cổ kính và đồ sộ, đất nước của trí tuệ nhân loại. Kẻ bảo đó là cái chậu toa-let của thế giới. Còn tôi? Trong trí tôi vẫn rõ hình ảnh những con chó hoang rảo quanh các đống rác trên đường phố tìm bới thức ăn. Những em bé với đôi mắt to nâu như quả chà là ngơ ngác nhìn mấy ông Tây bà Tây trong đoàn chúng tôi như thể họ là những con người đến từ hành tinh khác. Những người phụ nữ đeo đầy trang sức bước đi thanh lịch trong những bộ áo sari lộng lẫy sắc màu lúc chói rọi lúc phiêu diêu như hư ảo. Và những dây hoa nhài trắng kết trên mái tóc màu gỗ mun của họ.
         Có cái gì như sự bí ẩn trong một nơi chốn dường như hỗn loạn và đầy mâu thuẫn này. Những ngôi biệt thự cao tầng hiện đại nằm lấn giữa những căn hộ lè tè xiêu vẹo. Phố xá chật chội. Lắm con đường không có tên, không cả vỉa hè, rẽ đi tứ hướng. Bước ra đường là căng thẳng vừa phải ngó chừng xe cộ phóng vùn vụt sát bên người đi bộ, vừa phải liên tục nhìn xuống chân vì nhãng một cái là giẫm phải phân. Không phân người thì phân bò, hoặc phân chó, phân heo, phân ngựa, có khi cả phân lạc đà. Thỉnh thoảng đàn bò ở đâu nghênh ngang ngay giữa đường phố. Nhưng không ai phiền lòng. Mọi người nhẫn nại né tránh. Đánh chết một người đa-lit giữa thanh thiên bạch nhật có thể không sao, nhưng bị vu giết một con bò thì có khi phải thế mạng. Bò là con vật thánh với người Hinđu. Số lượng bò ở Ấn Độ còn đông hơn và có vị trí cao hơn nhiều so với người đa-lit (tầng lớp ngoài đẳng cấp, đáy cùng của xã hội). Người Hinđu trân trọng cả những chất thãi ra từ con bò. Vào một số ngôi chùa của họ, tín đồ và khách sau khi cúng thần chút tiền sẽ được mời uống một chén nước thánh đặc biệt bằng nước tiểu nguyên chất của những con bò còn trinh. “Cuộc cách mạng phân và nước tiểu bò” được bàn thảo ở Ấn Độ từ đầu thiên niên kỷ mới. Họ tuyên bố từ nay mọi người không phải lo sợ nguy cơ nhiễm chất phóng xạ hạt nhân. Chỉ cần trát phân bò lên mái nhà hoặc hiệu nghiệm hơn nữa là bôi phủ lên cơ thể mình.  Năm 2002, Ấn Độ được Mỹ cấp bằng sáng chế cho các thành tựu chứng minh nước tiểu bò có thể dùng như những phương thuốc trị bệnh. Toàn Ấn Độ hiện nay có hơn 200 trung tâm điều trị dùng nước tiểu bò. Họ khẳng định rằng dùng nó trị được các chứng tim mạch, tiểu đường, AIDS, hen suyển, xương khớp, và các loại ung thư. Không chỉ nước tiểu của con bò, phân nó cũng được sử dụng kết hợp trong chế tạo những sản phẩm như trà, kem đánh răng, xà bông tắm, dầu gội đầu, thuốc trừ sâu, phân bón. Chưa nói đến phân bò được dùng làm nhiên liệu đốt của người Ấn Độ bao đời nay. Mùi khói nhang tỏa trong các đền đài chùa chiền và nhà ở cũng từ chất thãi ra của con vật được coi là thiêng liêng này. Những năm gần đây dân Nhật Bản đã đặt mua với số lượng lớn loại nhang chế tạo từ phân bò ở Ấn Độ để dùng nơi thờ phượng, cầu nguyện, thiền, và đốt cho thơm nhà.
Nói về tín ngưỡng, Ấn Độ là đất nước của người Hinđu với 82 phần trăm dân số. Còn lại đạo Hồi, Cơ đốc, Sikh và đạo Phật. Hầu như giữa các đạo đều có mâu thuẫn, không bề mặt thì cũng ngấm ngầm. Chỉ nội thành phố Pune đã thấy lắm thánh đường, đền đài, chùa chiền lớn nhỏ, nghe bao chuyện đổ máu giữa tín đồ Hinđu và tín đồ Hồi giáo. Vào thăm Pataleshwar, ngôi chùa đẽo gọt bằng đá bazan từ thế kỷ thứ tám thờ thần Shiva, vẫn còn thấy dấu tích các tượng thần bị hành hung. Có lẽ không nơi nào trên thế giới nhiều thần thánh như Ấn Độ. Người Hinđu có trên ba ngàn vị thần. Thần nào cũng có chuyện về thần ấy. Nghe những chuyện thần mới biết các vị cũng bê bối không kém người trần. Thần cũng nóng tính, cũng hám chuyện trăng hoa, cũng ghen tuông, cũng tham quyền lực. Tôi hỏi nhiều thần như vậy làm sao người ta thờ cho hết. Các thần cư trú ở các chùa khác nhau, biết đi chùa nào. Guru giải thích rằng bắt đầu từ thời Chúa giáng sinh, người Hinđu có tập tục thờ lingam, biểu tượng cách điệu của dương vật người đàn ông – mang ý nghĩa sức sinh sản của thiên nhiên. Nó tượng trưng cho thần Shiva, một trong những vị thần lớn của đạo Hinđu. Tuy nhiên tín đồ Hinđu không bị ép buộc phải thờ phượng một thần cụ thể nào. Thích thần nào thờ thần ấy. Không thờ thần nào cũng chẳng sao. Đạo Hinđu không có đức giáo hoàng, giám mục hay hội đồng giáo xứ nào quản lý. Các tín đồ chỉ phải tuân theo những truyền thống văn hóa của xã hội, bao gồm luật lệ của hệ thống đẳng cấp. Từ một tôn giáo Hinđu lại còn đẻ ra nhiều giáo phái khác, thí dụ như Jain. Một số tín đồ cực đoan thuộc giáo phái này không mặc quần áo, không giết bất kỳ một sinh linh, không tin sự tồn tại của các vị thần như người Hinđu chính thống. Họ tôn thờ tôn sư của mình, tin rằng thầy mình có quyền năng thần thánh. Về đạo Phật ở Ấn Độ, guru cho biết hiện nay chỉ còn một lượng nhỏ tín đồ. Vì mảnh đất này là nơi đức Phật sinh ra và đắc đạo, nên nó trở thành địa điểm hành hương của tín đồ Phật giáo trên thế giới. Một giáo phái khác của Hinđu cũng thờ đức Phật vì họ tin Ngài là sự hóa thân của thần Vishnu trong đạo Hinđu. Theo guru, sách vở hiện nay có lẽ cũng chưa tổng kết đầy đủ sự phức tạp về niềm tin tôn giáo của dân tộc Ấn Độ.
Giữa sự ngổn ngang phức tạp ấy dường như lại có một thứ trật tự con người từ bao thế hệ luôn tự giác tuân theo. Người dân Ấn Độ tin rằng mỗi con người sinh ra trên đời với một vai trò được sắp đặt sẵn. Chu tròn nhiệm vụ mình ở cõi đời này là lập công đức chuẩn bị cho sự hóa kiếp lần sau tốt hơn. Tinh thần giáo lý trong Bhagavad Gita bị nhiều người trên thế giới phê bình vì nó dạy cho con người an phận với vị trí của mình, và nó khuyến khích sự tồn tại của hệ thống phân chia đẳng cấp trong xã hội, làm cho xã hội bị trì trệ, không tiến lên được. Tôi đã hiểu tại sao những người nghèo tôi gặp ở Ấn Độ thường có nét mặt bình thản, chấp nhận. Tại sao ở đây lại có một đời sống từ tốn khác thường? Đến chín mười giờ sáng các cửa tiệm vẫn chưa mở. Không tất bật hối hả. Mọi người như hòa theo nhịp điệu ung dung của cuộc sống. Không muốn thay đổi. Những truyền thống bao ngàn năm tự thời Vedas vẫn được tuân thủ giữ gìn. Tôi nghĩ đến bao nhiêu người từ tiểu lục địa Ấn Độ di dân tới Canada mấy chục năm vẫn không bị “Tây hóa” nhanh chóng như các dân tộc khác. Phụ nữ vẫn trong trang phục truyền thống, đàn ông Sikh vẫn đội khăn xếp và để tóc để râu, trẻ con sinh ra ở xứ người vẫn thông thạo tiếng mẹ đẻ, tín đồ Hồi giáo vẫn giữ tập tục ăn chay trong tháng Ramadan, vẫn sắp xếp thời gian đọc kinh Koran năm lần một ngày.
Còn đọng trong tâm tưởng tôi là những sớm mai chập chờn tỉnh giấc với tiếng kinh cầu đức tổ Patanjali buồn bã vẳng lên từ những lớp học yoga ở tầng dưới. O…m…Tiếng guru ngân nga khởi xướng. O…m… Giọng nhóm người nhịp nhàng họa theo.
yogena cittasya padena vacam
malam sarirasya ca vaidyakena
yopakarottam pravaram muninam
patanjalim pranjalir anato smi
(Xin cúi mình trước đức hiền triết Patanjali,
Đem yoga đến cho tâm tưởng khuấy động của nhân loại được yên bình
Nguyên tắc văn phạm cho sáng rõ lời nói
Và thuốc men để tẩy uế xác thân con người)
Cứ năm giờ sáng mỗi ngày. Hòa lẫn với nhịp kinh nguyện là tiếng khạc đờm từng tràng dữ dội như xé lồng ngực của người đàn ông từ khu nội trú bệnh nhân tầng trên, và tiếng bồ câu thăn thĩ đâu đó từ phía xóm nhà nhếch nhác đằng sau học viện. Như một khúc hòa tấu nhẫn nại lặp đi lặp lại mỗi ngày. Tôi nghĩ đến cuộc sống của guru, những bữa cơm rau đạm bạc mỗi ngày cùng chế độ như những kẻ giúp việc ở Kabir Baug, gian phòng ở và làm việc khiêm tốn của ông, và cả những bài giảng và câu chuyện ông kể trên lớp. Rồi nghĩ đến ngôi biệt thự của người bạn ông đưa tôi đến uống trà, chủ một doanh nghiệp thực phẩm. Căn nhà như một cung điện vua chúa. Có nhân viên gác cổng ra vào. Tất cả chén bát ly tách đều bằng bạc nguyên chất, nặng trĩu. Nhưng khách trầm trồ hơn cả là công trình kiến trúc tuyệt tác của ngôi chùa ông dựng ngay trước sân nhà.  Kiểu xe chiến mã hai bánh có mui và hai con ngựa kéo. Kích cỡ to như trong đời thực. Bên trong là một tượng thần Jain cũng bằng bạc nguyên chất. Toàn bộ ngôi chùa tạc bằng đá bởi bàn tay những nghệ nhân có tiếng nhất của Ấn Độ. Một lần kẻ cướp vào định tẩu thoát với tượng bạc, cuộc xô xát làm ông bị bắn gãy một ngón tay. Nỗi buồn của ông là nếu như ông chết cơ sở làm ăn của ông cũng chết theo vì không có ai thay vào. Con trai và con rể ông đã chết trong một tai nạn giao thông.
Guru bảo còn nhiều thứ bên ngoài khuôn viên Kabir Baug tôi chưa thấy. Ấn Độ cũng như bao nơi khác. Cũng khắc khoải giấc mơ một cuộc sống dễ dàng hơn hiện tại. Người giàu muốn giàu hơn cũng gởi con cái đi du học châu Mỹ châu Âu. Người nghèo nếu có điều kiện/cơ hội có lẽ cũng ráng ngoi ra khỏi thân phận tăm tối của mình. Ngày xưa ai đáp tàu rời khỏi quê hương khi trở về phải theo nghi thức tẩy rửa mọi chất nhơ bẩn bằng cách tiêu thụ bốn chất lỏng từ con bò: nước tiểu, phân loãng, sữa và máu. Thời Mahamat Gandhi trước khi rời Ấn Độ đi học ở Anh Quốc cũng phải xin phép đẳng cấp của ông nhưng bị chối từ vì điều đó trái với đạo luật Hinđu, nhưng ông vẫn đi và bị trở thành người ngoài đẳng cấp. Bây giờ người đi Tây vì mục đích học hành hoặc kiếm tiền không bị khai trừ khỏi xã hội như xưa nhưng ở mức độ nào đó cũng bị kỳ thị, coi như đã bị hoen ố, không còn nguyên vẹn nữa. Trong lúc nhiều kẻ bị cuốn hút vào trò chơi của thế gian thì cũng không ít người nhận ra rằng con người ta chào đời không mảnh vải che thân và giã từ dương thế cũng không có một ru-pi. Guru nói sự chọn lựa cách sống của tín đồ Hinđu chính là dựa trên nhận thức ấy.
Guru kể có lần ông đi giảng ở Mỹ về, người ta hỏi ông đất nước ấy như thế nào. Guru trả lời họ vật chất thừa mứa, nhưng tinh thần vẫn kham khổ. Tôi nghĩ câu trả lời chung chung người ta hay dùng ấy chắc không thỏa mãn đầu óc những người Ấn Độ hiếu kỳ muốn biết về cuộc sống ở một đất nước Tây phương. Cũng như tôi không thể chỉ đơn giản mượn câu trả lời ngược lại của guru để nói về đất nước Ấn Độ.
Tôi nhớ tới câu chuyện về Swami Vivekananda, người Hinđu đầu tiên đặt chân tới đất Mỹ năm 1893 truyền bá triết lý yoga trong một đại hội về tôn giáo thế giới. Bài diễn thuyết xôn xao nước Mỹ. Người ta ca ngợi Ấn Độ và tôn giáo Hinđu đã mang đến những tư tưởng cao cả cho thế giới vật chất tầm thường của Tây phương. Họ đua nhau gom góp tiền ủng hộ cho sứ mạng rao giảng yoga của ông ở Mỹ. Vivekananda trở nên một nhân vật  nổi tiếng và được kính trọng. Khi về lại quê hương, ông đã làm những môn đệ và các tín đồ Hinđu thất kinh. Ông bảo họ không thể tiếp tục suốt ngày ngồi suy tư trước các tượng thần. Phải rời khỏi chỗ cầu nguyện, bắt tay vào hành động. Phải đem học vấn và trí não của mình ra làm việc.  Bắt chước người Mỹ, học tập công nghiệp của họ, giàu lên như họ, sống tiện nghi như họ. Không thể cứ ngồi một chỗ ăn đồ  bố thí của tín đồ. Không thể hèn nhát mãi. Hãy làm một người đàn ông chân chính! Những lời ông có vẻ quá khích, nhưng giống như Gandhi, ông hiểu Hinđu, hiểu con người của đất nước ông.
Hơn thế kỷ trôi qua. Ấn Độ bây giờ đang được biết đến như một trong những cường quốc về chính trị và kinh tế trên thế giới hiện nay. Tuy nhiên tôi đoán không phải tất cả mọi người trên đất nước ấy đều sẽ hưởng lợi từ cuộc cải tiến này, và họ cũng sẽ tiếp tục duy trì một đời sống như cha ông bao ngàn năm qua. Những câu chuyện mới xảy ra về những người đa-lit ở các làng mạc xa xôi vẫn làm tôi bàng hoàng. Tại làng Thinnian thuộc bang Tamil Nadu, hai người đàn ông đa-lit đấu tranh với một cặp vợ chồng đẳng cấp cao hy vọng lấy lại được số tiền bị chiếm đoạt. Kết quả của sự vùng dậy là cả hai bị gia đình  đóng dấu khắp cơ thể bằng sắt nung nóng, rồi hai người phải lần lượt đút cho nhau ăn hết đĩa phân của họ. Tại làng Pakri-pakohi ở huyện Muzaffarpur, một phụ nữ đa-lit bị một nhóm đẳng cấp cao kết tội có ma thuật, bị bắt  trần truồng diễu hành khắp xóm, bị rút móng, và cũng bị bắt nuốt phân người. Còn bao chuyện khó tin xảy ra ở Ấn Độ đương đại. Tôi cứ tư hỏi không biết số phận của 170 triệu người đalit sẽ ra sao trong những ngày sắp tới. Đất nước đi lên, nhưng nhiều công dân của nó chắc vẫn bị bỏ lại đằng sau.
Vẫn còn bao điều bí ẩn về đất nước của guru tôi chưa biết.

 

Please follow and like us: