Mảnh đạn-KIỀU GIANG

6/ Thu Sương lần theo thư mục “Thơ văn trong nước” trên giá sách của thư viện phố núi, nàng dừng lại “mục thơ” và rút ra một quyển. Tựa tập thơ “Dấu chân trên sa mạc”. Thấy tựa lạ, cô liếc nhanh tác giả, Nguyễn Ngọc Huy. Cô hơi sững: “chẳng lẽ trùng tên?”. Cô lật sang bìa 2, hình và sơ lược tiểu sử tác giả. “Ôi, đúng rồi, anh còn sống! Bây giờ là một nhà thơ”. Cô áp đôi bàn tay cùng tập thơ lên ngực, mặt ngước lên trời, như người ta đang cầu nguyện. Phút giây kỳ diệu lướt qua cuộc đời . “Người về từ cõi mộng trăm năm”, một chút mật ngọt chảy qua tâm trí nàng. Thu Sương cố tìm nơi đang ở của Huy, nhưng chỉ biết địa chỉ của nhà xuất bản. Cô ra về, trong lòng ngổn ngang những nỗi đời. “Rồi ta cũng sẽ tìm ra…”, cô nhẩm trong đầu.
Từ đó, đêm nào, sau giờ đóng cửa quán, Thu Sương cũng nằm say mê nuốt từng lời thơ của Huy.Thắng đi nhậu về với điệu bộ chệnh choạng, say mèm, nôn ói và lảm nhảm. Cô bất đắc dĩ phải dụ cho anh uống những viên thuốc an thần. Cuộc sống của nàng bắt đầu lơ lửng, gầy guộc, nhức nhối,  giữa địa ngục của hơi men và thiên đường của những bài thơ tình cháy tim cháy ruột.
Sau từng đêm vật lộn với rượu và thuốc ngủ, sáng nào thức dậy ông Thắng cũng ôm đầu vật vã trong cơn đau. Lần hội chẩn đầu tiên, bệnh viện cho biết ông bị hai mảnh đạn trong đầu kết hợp với rượu đã gây nên những cơn đau ác tính, nếu phẩu thuật thì tỉ lệ thành công là rất thấp, bệnh nhân khó giữ được mạng sống hoặc phải nằm liệt suốt đời. Giải pháp tối ưu là bệnh nhân phải bỏ rượu và dùng thuốc an thần. Mỗi lần ông Thắng lên cơn, Thu Sương rất hãi hùng, nhưng nàng không dám quyết định có nên giải phẩu hay không. Nàng chỉ biết van xin chồng đừng uống rượu nữa. Nhưng thật vô ích, con ma men đã mỉm cười khinh bạc, chế giễu nàng.
Kể từ khi ông Thắng phát hiện Thu Sương say sưa đọc tập thơ “Dấu chân trên sa mạc”, ông đã tìm ra người yêu của nàng từ tuổi học trò là Huy, bây giờ là nhà thơ đang còn sống và khá nổi tiếng, có nhiều bài thơ phổ nhạc, hát trên đài. Vậy là ngoài cái di chứng của chiến tranh và những cơn ngất ngư của Lưu Linh truyền lại, ông còn mang thêm cái máu đàn bà, máu của  Hoạn Thư. Không đêm nào là ông không lè nhè tra vấn những câu thô bỉ, vô nghĩa: “hồi đó cô quen thằng nhà thơ đó như thế nào, hai người đã có gì với nhau chưa, thơ của hắn chỉ toàn rên rỉ vì nhớ người yêu cũ”. Rồi ông tưởng tượng xa hơn “Chắc là cô đã gặp lại hắn, gần đây tôi thấy cô ngơ ngẩn, chết lặng hàng giờ”. Thu Sương thầm nghĩ: “anh ta càng gợi cho mình nhớ Huy hơn, rất da diết !”. Những câu thơ như “Bây giờ anh xa em/ Một nỗi đau thầm lặng/ Anh viết lên vầng trăng/ Huyền ngôn đời thăm thẳm…” đã làm rờn rợn trên da thịt cô, và nỗi đau thắt ruột. “Huy ơi, dòng sông đã chia hai ngả tự bao giờ? Anh bây giờ ra sao, ở đâu? Trong tập thơ đó, anh chỉ viết cho tình yêu của chúng ta, và từ đây anh lại dạy cho em thứ ngôn ngữ không lời để nói về tình yêu của em. Nỗi nhớ đang hành hạ em và em hoang mang đến cùng cực”.

Hôm nay, đã quá 11 giờ đêm, ông Thắng mới về nhà. Ông cố bò lên gác, hai tay ôm đầu nhưng không lảm nhảm như trước. Thu Sương vẫn ngồi đọc sách như thường lệ, Trường Sơn ngồi bên cạnh học bài. Ông Thắng gầm lên:
– “Vẫn là thơ, vẫn là thằng khốn kiếp đó. Nó trở về cướp cô khỏi tay tôi”.
Thu Sương hốt hoảng:
-“ Không anh ơi! Chỉ là thơ thôi mà. Em vẫn là vợ của anh. Hàng ngày em vẫn lo chu đáo cho anh!”
-“ Cô chỉ còn cái xác, mỗi ngày cơm nước cho tôi, còn cái hồn, cô đã giao cho hắn. Cô khinh tôi là một thằng thương binh nát rượu, bây giờ trở thành gánh nặng, cái bóng ma trong đời cô !”.
– “ Không đâu anh ơi, hồn xác em vẫn là của anh”.
-“ Láo…láo… cô tưởng cô lừa được tôi hay sao? Mảnh đạn trong đầu đã gắn liền với số mệnh của đời tôi. Hôm nay tôi không muốn sống trong trái tim trống rỗng của cô nữa, và tôi cũng không muốn trao cô cho hắn, cô phải đi theo tôi đời đời kiếp kiếp, vì sao cô biết không, vì tôi mãi mãi yêu cô, dù sang bên kia thế giới, tôi vẫn cần có cô”.
Trong cơn điên loạn vì ghen, đầu lại đau như búa bổ, ông Thắng chạy lại giật tung cánh cửa hộc tủ nhỏ ở đầu giường, lấy ra khẩu súng ngắn chỉa thẳng vào Thu Sương. Nàng quỳ xuống đất, vái lia lịa “Anh ơi hãy để em sống nuôi con, em van anh…”. Bé Trường Sơn nhào tới ôm cha, nhưng súng đã nổ, bé ngã ngược lại phía sau, còn Thu sương gục xuống ôm ngực ràn rụa máu.
Ông Thắng chỉa họng súng vào đầu, nhưng có lẽ vì tay run, viên đạn trượt, bay thẳng lên trần nhà, làm sướt da đầu, máu tuôn xối xả. Ông còn bấm cò lần cuối nhưng súng đã hết đạn.
Vở bi kịch về cuộc hôn phối của thiên đàng và địa ngục, giữa “thua cuộc và thắng cuộc”, giữa tình yêu và quyền lực đã kết thúc với sự ra đi tức tưởi của hai mẹ con người thục nữ mệnh bạc, sau 20 năm đất nước hòa bình. Người cán bộ, người thương binh, điên loạn trong trại tâm thần cũng đi theo đồng đội về bên kia thế giới không lâu sau đó. Người ta không biết phải tiễn ông theo nghi thức nào, nghi thức của một anh hùng quân đội hay của một tên tội phạm giết người? Sự nghich lý của cuộc đời vẫn không buông tha cho loài có sẵn nụ cười và tiếng khóc…
 

 

7/ Bằng đôi bàn tay xòe, Huy đưa 3 nén nhang lên tầm trán, thì thầm trong đầu: “Thu Sương ơi, hôm nay anh gặp lại em cũng là lúc âm dương vĩnh viễn chia cắt đôi ta. Anh chưa bao giờ tưởng tượng nổi điều này. Những hy vọng và ước mơ của anh trong suốt 30 năm, giờ đây thực sự đang quằn quại dưới dấu chấm hết mà bàn tay vô tình của thượng đế đè xuống đôi ta… Những vần thơ anh viết cho em từ bây giờ cũng chỉ lơ lửng cùng mây trời quanh quẩn nơi nghĩa trang hoang lạnh này. Có lẽ không còn ai dám đổ cho số mệnh đâu em, tất cả đều có từ một hiện hữu rất khắc nghiệt, chiến tranh. Những bi kịch trong xã hội ngày nay cũng là do những mảnh đạn sót lại trong từng ngõ ngách của cuộc đời mà có lẽ còn lâu dân tộc này mới gắp ra hết. Thôi em nhé, xin hãy chờ anh”. Sau lời nguyện, anh nhìn sâu vào đôi mắt đen thăm thẳm trong tấm hình khắc trên bia mộ, và có cảm giác như Thu Sương đang đứng cạnh anh, chứ không phải là đứa con gái của nàng.
Huy nắm tay Thảo Nguyên lặng lẽ bước đi dưới hai hàng thông ngậm ngùi vi vu trong gió. Ra khỏi nghĩa trang, hai người hướng về phía Biền Hồ, nơi mà cách đây không lâu, trong một đêm thu, một mình trên chiếc thuyền nang, anh linh cảm đôi mắt nàng nơi đáy hồ trong xanh thăm thẳm.

Mặt trời chạm xuống đồi núi phía tây, những dải nắng cuối cùng lướt trên mặt hồ như những thanh kiếm bạc lung linh huyền hoặc, cố níu một vẻ đẹp hoang sơ mà tạo hóa đã dành ban tặng cho một vùng cao nguyên kỳ vĩ, như một bức bích họa mà Thượng Đế đã vẽ trên nền trời xanh.
Màn đêm đang phủ lên vùng sơn thủy u tịch đầy tính lãng mạn của thiên nhiên ở nơi này, người ta lại thấy một thiếu nữ thướt tha xinh đẹp trong chiếc váy đầm dài phủ chân, đôi mắt sâu đen như chứa cả bầu trời vùng cao nguyên thơ mộng, bước xuống một chiếc thuyền nang, rồi chèo ra giữa lòng hồ. Không ai hiểu được mục đích của cô gái, người ta chỉ thấy bóng của nàng in trên nền trời đêm như nữ thần tình yêu Aphrodite trong bức tranh thần thoại Hy Lạp. Có khi nàng lại nằm úp mặt lên mặt nước hồ tựa như một tấm gương đêm, chi chít những vì sao xa tít, ngắm mãi đôi mắt của người đàn ông huyền thoại ở dưới đáy hồ, giống câu chuyện nàng tiên đi tìm đôi mắt chàng Narziss của Oscar Wilde.

 

Sài Gòn, 16-4-2021.

Please follow and like us: