Đức tả quân-PHẠM HỮU HOÀNG

Paul Klee/Thụy Sĩ

 

 

Tháng tư năm Tân Dậu, Nguyễn Ánh đem quân đánh chiếm Phú Xuân. Quân Tây Sơn đại bại. Vương bồi hồi đặt chân lên kinh đô cũ. Trong ráng chiều đỏ rực, cùng đoàn hộ giá đi trên đống hoang tàn, chợt nghe tiếng khóc tỉ tê, Vương trông về phía đó. Tốp lính áp giải một thiếu phụ đang tiến tới. Thiếu phụ chừng đôi mươi, khoác chiếc áo choàng trắng viền hồng, run lẩy bẩy trong dây trói. Vương hỏi:

      – Ai vậy?

     Người chỉ huy thưa:

      – Bẩm chúa công, đó là Lê Ngọc Bình, vợ của vua giặc Cảnh Thịnh.

     Nguyễn Ánh đắc ý: 

      – Thằng oắt con đớn hèn khiếp vía chạy trốn bỏ cả thê tử. 

     Vương lại gần Ngọc Bình, mùi hương quyến rũ làm Vương ngây ngất. Ngọc Bình ngước lên. Một tuyệt sắc phi phàm. Vương sững sờ, lặng nhìn ngẩn ngơ. Ngọc Bình đoán chắc người đứng trước mặt là Nguyễn Ánh, càng thêm kinh hãi. Nguyễn Ánh sai lính hầu đưa nàng về doanh trại. Ngay đêm ấy, Nguyễn Ánh mây mưa với nàng. Sáng hôm sau, với vẻ thỏa mãn, Nguyễn Ánh dẫn Ngọc Bình ra giới thiệu với các tướng lĩnh. Vương nói:

      – Giặc đã cao chạy xa bay, có truy đuổi cũng không kịp. Các ông cũng đã khổ nhọc lắm rồi. Hãy nghỉ ngơi vài hôm rồi bàn tính kế sách trốc cả gốc rễ chúng. Đây là người thiếp mới của ta, nàng tên Lê Ngọc Bình, vốn là công chúa nhà Lê.

     Các tướng liền can ngăn. Quyết liệt nhất là Thần sách quân Chưởng tả dinh Đô thống chế Quận Công Lê Văn Duyệt. Gương mặt nhẵn thín của Lê Văn Duyệt đỏ ửng lên, giọng vốn đã chát, mỗi khi có điều không vừa ý nghe càng thêm chói tai:

      – Thưa chúa công, giang san của ngài thiếu gì gái đẹp, sao lại lấy vợ ngụy tặc Tây Sơn?

     Vương bực tức:

      – Thiên hạ của Tây Sơn, ta còn lấy được. Vợ giặc ta lấy thì làm sao?     

      Lê Văn Duyệt không phục, tiếp tục can gián, lời lẽ mỗi lúc thêm gay gắt:

      – Ả phải chịu tội lăng trì mới thỏa đáng.

     Nguyễn Ánh phát cáu:

      – Ý ta đã quyết. Không được nhiều lời!

     Trông gương mặt chàu bạu của Lê Văn Duyệt, Nguyễn Ánh nghĩ thầm: “Mày chưa từng biết mùi gái thì đừng to miệng xen vào chuyện riêng của tao. Không vì cơ nghiệp tổ tiên, tao cho xuống âm ti mà cãi”. Tuy giận lắm nhưng Nguyễn Ánh vẫn giả tảng như không có chuyện gì, bảo các tướng lui ra rồi hậm hực dẫn Ngọc Bình về.     

*

*    *

     Năm Nhâm Tuất, Nguyễn Ánh lên ngôi vua lấy hiệu là Gia Long. Lê Ngọc Bình được phong Chiêu nghi. Sáng hôm đó, từ cung Chiêu nghi về điện Càn Thành, mặt rồng cau lại. Các thái giám, cung nữ lầm lũi theo sau, ai nấy lặng câm như tượng. Ngọc Bình vẫn chiều chuộng vua như mọi khi. Chỉ có điều, sau khoảnh khắc mặn nồng ân ái, Ngọc Bình nằm thượt ra. Nhà vua thắc mắc hỏi, Chiêu nghi thủ thỉ: 

      – Thần thiếp được bệ hạ yêu chiều là phần phúc trời ban. Nhưng ông ta làm thần thiếp lúc nào cũng nơm nớp sợ. 

     Chiêu nghi nói đến Lê Văn Duyệt, người vừa được nhà vua phong chức Khâm sai Chưởng Tả Quân dinh Bình Tây tướng quân, tước Quận công. Gia Long dỗ dành: 

      – Có trẫm đây, hắn không dám làm gì nàng đâu. 

     Nhưng Ngọc Bình vẫn lo lắng. Lê Văn Duyệt như bóng đen u ám lởn vởn trong đầu nàng. Kẻ quyền uy ra vào triều gặp vua không phải lạy, các quan đều khép nép kiêng nể ấy rất căm ghét nàng. Tai họa nào sẽ ập tới đây?… 

     Bấy giờ trong triều có nàng Đỗ Thị Phận, là ái nữ quan Thượng bảo khanh Đỗ Phiên. Đỗ Thị Phận dung nhan xinh đẹp, giỏi về y thuật, tính tình nghiêm nghị. Nhiều vương tôn công tử kinh thành để ý cậy nhờ mai mối nhưng đều bị khước từ. Đỗ Thị Phận nói riêng với những người gần gũi: “Cái đám hàng mã tầm thường chỉ biết dựa vào quyền thế gia phụ ấy mà vênh mặt, không đáng để tôi bận tâm”. Nàng được tuyển vào làm quan trong Thái y viện lo việc chữa bệnh cho hoàng gia và dạy bảo các cung nữ, tài nhân lễ nghi phép tắc cung đình. Tiếng tăm nàng tới tai Gia Long. Nhà vua bỗng nghĩ ra một kế có thể gỡ nỗi lo cho Ngọc Bình. Nhà vua liền truyền gọi Đỗ Thị Phận đến ngự thư phòng gặp. Đỗ Thị Phận hồi hộp, khép nép bước vào. Nhà vua hỏi han trò chuyện một lúc rồi ôn tồn bảo:

      – Lê Văn Duyệt là bậc khai quốc công thần hiện chưa có gia thất. Trẫm sẽ gả khanh cho ông ấy để đền đáp công ơn một đời giúp rập.

     Đỗ Thị Phận diện kiến vua đã lo sợ, lại hiểu đạo quân thần, không dám từ chối, ấp úng thưa:

      – Thần xin tuân theo thánh ý.

     Nhà vua cả mừng:

      – Trẫm sẽ không để khanh phải chịu thiệt thòi đâu.

     Nhà vua ban thưởng rất hậu, lại đổi tên nàng chữ “Phận” ra “Phẫn”. Chữ “Phẫn” nghĩa là đổ ngã, hỏng việc. Đỗ Thị Phận không hiểu vì sao nhà vua lại đổi tên mình như vậy. Nhưng cũng không dám nói gì. 

*

*    *

     Buổi thiết triều hôm ấy, luận bàn chính sự xong, nhà vua bảo Lê Văn Duyệt:

      – Khanh đã ngoài tứ tuần vẫn chưa có hiền phụ nâng khăn sửa túi. Nay có nàng Đỗ Thị Phẫn tài mạo vẹn toàn, trẫm ban cho khanh về làm nương tử. Trẫm sẽ làm chủ hôn. Khanh sửa soạn tư dinh chuẩn bị rước dâu.

     Quần thần che miệng cười, tiếng rúc rích nghe rất rõ. Lê Văn Duyệt bất ngờ, kinh ngạc. Nhưng liền trấn tĩnh, vòng tay bái tạ:

      – Thần xin lãnh thánh ân.

      Gia Long hả hê: “Mày có thể lập đệ nhất công trạng thiêu đốt hạm đội làm tan rã thủy quân giặc ở của biển Thị Nại, nhưng chuyện phòng the thì chẳng được trò trống gì. Dính vào đàn bà, sẽ gặp rắc rối, khổ sở cho đáng kiếp, rồi đây còn dám múa miệng nói lời càn rỡ phật ý Chiêu nghi của tao nữa không”. 

     Đỗ Thị Phẫn hoang mang, tâm trạng rối bời. Nàng biết Tả quân là quan hoạn, học hành ít ỏi, võ biền thô lỗ, cao ngạo khó gần. Làm sao nên nghĩa phu thê ăn đời ở kiếp được? Ông ta sẽ đối xử với mình ra sao? Cuộc sống mình rồi sẽ như thế nào? Đỗ Thị Phẫn thở dài ngao ngán. Những tháng ngày sắp tới sao mà mù mịt, ảm đạm. Nàng thầm trách cao xanh đã xô đẩy mình vào cảnh ngộ oái oăm dở khóc dở cười này.

     Lê Văn Duyệt tổ chức một đám cưới thật lớn, thết tiệc sang trọng đãi hoàng gia và bá quan văn võ. Tả quân sánh vai cùng Đỗ Thị Phẫn đón nhận bao lời chúc tụng. Xong tiệc, người hầu đưa Tả quân về phòng hoa chúc. Đỗ Thị Phẫn mặc áo tân nương, khăn đỏ rũ che mặt ngồi trên ghế đợi. Tả quân bước vào, tới ngồi ghế đối diện. Tả quân lên tiếng, rành rọt:

      – Nàng là nương tử vua ban. Nhưng ta không thể cùng nàng chăn gối. Mong nàng hiểu cho. Đây là phòng riêng của nàng, cần gì cứ nói với ta.

     Lời vừa rồi của Tả quân làm Đỗ Thị Phẫn giảm bớt căng thẳng. Không ngờ Tả quân thẳng thắn, dứt khoát như vậy. Mọi thứ bỗng trở nên rõ ràng hơn. Nàng bớt lo âu như lúc bước vào dinh thự của Tả quân trong tiếng pháo nổ đón dâu. Lê Văn Duyệt gọi hai tỳ nữ vào căn dặn chăm lo cho nàng, rồi đi ra ngoài. Còn lại một mình, Đỗ Thị Phẫn nghĩ mà tủi thân. Có ai về làm dâu mà đêm động phòng hoa chúc lại gối chiếc chăn đơn bẽ bàng như thế này không? Bất giác, lệ rơi lã chã trên vạt áo hồng…

     Trong cuộc sống hằng ngày, Lê Văn Duyệt không để Đỗ Thị Phẫn thiếu thốn điều gì. Những lễ hội cung đình, Tả quân đều đưa phu nhân đi dự. Việc hiếu nghĩa cả hai phía, Tả quân đều lo chu toàn. Mỗi khi có việc quân phải đi xa lâu ngày, Tả quân tin cậy căn dặn vợ quán xuyến việc nhà. Đỗ Thị Phẫn quen dần với cuộc sống mới. Càng gần gũi, nàng thấy Tả quân không như những gì mường tượng ban đầu. Người chồng chưa bao giờ đồng tịch đồng sàng luôn cảm thông và hết sức tôn trọng nàng. Qua nhiều lần hàn huyên tâm sự, ít nhiều đã có sự gắn bó.  

     Năm Mậu Thìn, Lê Văn Duyệt nhận lệnh vua, đem quân vào Quảng Ngãi dẹp loạn người thiểu số Đá Vách. Tả quân đến từ biệt vợ. Thấy sắc mặt Tả quân không vui, Đỗ Thị Phẫn hỏi nguồn cơn. Lê Văn Duyệt đáp:

      – Bọn giặc cỏ này đánh mãi không yên. Chỉ thương bao sinh linh bị giết hại.

     Đỗ Thị Phẫn nói:

      – Theo nghề y của thiếp, phải tìm được gốc bệnh thì trị bệnh mới dứt hẳn. Phu Quân phải tìm ra nguyên nhân cuộc nổi loạn mới dẹp hẳn được giặc.

     Nét mặt Lê Văn Duyệt giãn ra:

      – Vậy mà ta nghĩ không ra.

     Đến nơi, Lê Văn Duyệt tiến hành điều tra. Quả nhiên, do tên Chưởng Cơ Lê Quốc Huy tham tàn ức hiếp dân quá đáng nên sinh loạn. Lê Văn Duyệt tâu với triều đình xử chém tên quan này, loạn tức khắc tan. Nhà vua hết lời khen ngợi.

     Sau sự việc đó, Tả quân thường chia sẻ với Đỗ Thị Phẫn những điều vướng mắt, băn khoăn, kể cả việc quân, việc nước. Tả quân xem vợ như một tri kỉ. Hôm đó, đêm trăng thật đẹp, ánh vàng thắm khắp muôn vật. Lê Văn Duyệt và Đỗ Thị Phẫn ra vọng lâu uống trà. Tả quân ngồi đăm chiêu, tách trà vẫn còn nguyên. Lê Văn Duyệt đột ngột nói:

      – Phu nhân nghĩ xem, Ngọc Bình từng là hoàng hậu ngụy tặc Tây Sơn. Dư đảng chúng vẫn còn khắp nơi. Ả đang được nhà vua sủng ái. Ta e nhà vua bị ả mê hoặc. Khi đó ả làm loạn triều cương, thông đồng với giặc thì nguy hại biết chừng nào.

     Liếc thấy bóng mờ phủ lên mắt Tả quân, Đỗ Thị Phẫn dịu dàng:

     – Phu quân cả nghĩ quá thôi. Thiếp mấy lần vào cung chữa bệnh cho Chiêu nghi, cũng khá gần gũi nên ít nhiều hiểu được. Chiêu nghi hiền hậu dễ mến, một dạ trung thành, đã hạ sinh hoàng tử cho bệ hạ. Người như Chiêu nghi không có gan làm những việc tày trời đâu.     

     Lê Văn Duyệt vẫn chưa yên tâm:

     – Ta cũng chỉ mong như thế, nhưng lòng người nông sâu khó mà lường được.

*

*    *

     Năm Canh Ngọ, Lê Ngọc Bình phát bệnh nặng, nhà vua truyền Đỗ Thị Phẫn vào cung ngày đêm kề cận chăm sóc, cùng với viện thái y lo việc thuốc thang. Sự tận tình của Đỗ Thị Phẫn làm Chiêu Nghi xúc động, ngày càng yêu mến. Một hôm Chiêu Nghi gọi Đỗ Thị Phẫn vào hỏi riêng:

     – Cuộc sống phu thê của ngươi như thế nào?

    Đỗ Thị Phẫn thưa:

      – Bẩm Chiêu nghi, tôi được nương tựa Tả quân là đã thỏa nguyện rồi.     

     Ngọc Bình hoài nghi:

      – Có thật thế không?

      – Tôi không dám nói sai nửa lời. 

     Chiêu nghi cầm bàn tay Đỗ Thị Phẫn vuốt ve mãi, mắt ứa lệ… Hôm sau, nhà vua đến. Ngọc Bình kể lại lời Đỗ Thị Phẫn. Gia Long ngạc nhiên:

      – Là người đàn ông mạnh mẽ như trẫm mà còn phải đau đầu nhức óc, không lúc nào yên với các phi tần ở hậu cung. Còn hắn, thân hoạn quan, làm cách nào chinh phục được người đàn bà như Đỗ Thị Phẫn. Trẫm không sao hiểu nổi. 

*

*    *

     Năm Ất Hợi, vua Gia Long hội nghị đình thần bàn ngôi thái tử. Ý định nhà vua muốn truyền ngôi cho hoàng tử Nguyễn Phúc Đảm. Nhưng Tả quân Lê Văn Duyệt cùng Tiền quân Nguyễn Văn Thành và một số đại thần khác lại đề nghị hoàng tôn Nguyễn Phúc Đán là con trưởng Hoàng thái tử quá cố Nguyễn Phúc Cảnh. Lê Văn Duyệt khăng khăng:

      – Hoàng tôn tài đức vẹn toàn, chúng thần kính mong bệ hạ chọn kế vị ngôi báu.

     Vua Gia Long thẳng thừng: 

      – Nếu trẫm để lại nợ, chủ nợ sẽ đòi ai? Con hay cháu? Tất nhiên con trẫm phải trả rồi. Cớ gì trẫm phải để lại giang san này lại cho cháu? 

     Tiền quân là người học rộng am hiểu sách vở, luật lệ lên tiếng: 

      – Đích tôn thừa trọng, theo đúng lễ này mới gọi là phải. Xin bệ hạ suy xét kỹ. 

     Nhà vua sa sầm sắc mặt:

      – Khanh chê trẫm không biết lễ chắc?

     Nguyễn Văn Thành vẫn cứng cỏi:

      – Tâu bệ hạ, thần không có ý đó, chỉ nói theo hiểu biết nông cạn. Nhưng nếu bệ hạ quyết chọn hoàng tử Đảm, thần không dám can dự nữa.

     Nhà vua đứng phắt dậy, hầm hầm bỏ vào trong. Không ngờ các đại thần nghịch ý mình đến vậy. Riêng Tiền quân Nguyễn Văn Thành ngày càng lộng ngôn phạm thượng không thể tha thứ. Không trị được thì còn quyền uy gì ngồi trên ngai vàng. Với lại, việc chọn người nối ngôi rất hệ trọng, không thể vì lời nói của đám bề tôi mà hỏng việc lớn. Lại thêm một nỗi lo, khi hoàng tử Đảm nối ngôi, chúng câu kết với hoàng tôn mưu đồ thoán nghịch thì nguy to. Cần phải trừ mối họa này càng sớm càng tốt. 

     Cơ hội đã đến. Có người vào tâu việc Nguyễn Văn Thuyên, trưởng tử của Nguyễn Văn Thành làm một bài thơ, hai câu cuối có thể thêu dệt thành ý phản nghịch. Không chần chừ, nhà vua giao cho Lê Văn Duyệt xét xử. Một mũi tên trúng hai đích. Trừ khử Tiền quân thì không còn ai dám chống đối việc lập hoàng tử Đảm lên ngôi thái tử. Hại một công thần bậc nhất như Tiền quân, tiếng xấu rơi cả vào Tả quân, người nhà vua ghét không kém. Lê Văn Duyệt phải phục mệnh. Tiền quân bị buộc uống thuốc độc chết. Nguyễn Văn Thuyên bị xử trảm…

      Sau vụ án ấy, Lê Văn Duyệt trở nên lầm lì ít nói, lúc nào cũng tư lự. Đỗ Thị Phẫn ân cần khuyên giải:

      – Tiền quân có tội thì phải bị xử theo luật vua phép nước. Phu quân làm đúng trọng trách của mình, hà cớ gì phải tự dằn vặt mình như thế.

     Lê Văn Duyệt đáp:

      – Chuyện triều chính phức tạp khó lường. Thật tình, xử ông ấy vào chỗ chết, ta thật đau lòng…

      Đỗ Thị Phẫn thấy bên trong Tả quân có một góc khuất chưa thể nào thấu tỏ được…

*

*    *

      Năm Canh Thìn, vua Gia Long băng hà. Nguyễn Phúc Đảm lên ngôi lấy hiệu là Minh Mạng. Nhà vua phong Lê Văn Duyệt chức Chưởng Tả Quân lãnh Gia Định Tổng trấn, thay cho Nguyễn Huỳnh Đức vừa mất. Đây là lần thứ hai, Tả quân làm Tổng trấn Gia Định. Đỗ Thị Phẫn theo Tả quân rời Phú Xuân vào phương Nam. Ở Gia Định, sống trong dinh thự bề thế nguy nga, kẻ hầu người hạ, Đỗ Thị Phẫn vẫn cảm thấy trống trải, cô đơn. Căn phòng gấm vóc rủ là mà sao trống vắng lạ lùng. Có đêm, nỗi thèm khát ân ái cồn cào, trở đi trở lại trên giường, trằn trọc vật vã mãi. Đỗ Thị Phẫn khao khát sinh một đứa con. Điều tưởng chừng bình thường nhất nhưng không bao giờ có được… 

      Năm Giáp Thân, có thánh chỉ gọi Tả quân về kinh. Trong buổi thiết triều hôm ấy, trước quần thần, nhà vua gọi Lê Văn Duyệt bước ra nghe chỉ: 

      – Khanh là bậc khai quốc công thần, vừa là nguyên lão hai triều đức cao vọng trọng. Nay trong hoàng thất xảy ra chuyện ghê tởm ảnh hưởng đến danh dự hoàng gia. Trẫm giao cho khanh xét xử, trừng trị thích đáng bọn chó lợn ấy. Khanh phải lấy phép công làm trọng, không được tư tình làm hỏng việc.

     Theo hồ sơ vụ án, Tống Thị Quyên, vợ Hoàng thái tử Nguyễn Phúc Cảnh lăng loàn với con ruột là hoàng tôn Nguyễn Phúc Đán. Đọc qua các bút lục, Tả quân thấy nhiều điểm rất đáng ngờ. Điều tra cặn kẽ thì rõ ràng đây là sự ngụy tạo. Tả quân ngầm hiểu ý nhà vua muốn triệt hạ hoàng tôn nhằm bảo vệ ngai vàng.           Tả quân kết tội rồi ra lệnh dìm Thái tử phi xuống sông. Thái tử phi tóc tai rũ rượi, áo quần xộc xệch, quằn quại sặc sụa, chìm dần xuống nước. Còn Nguyễn Phúc Đán bị giáng xuống làm thứ dân, nộp lại ấn và dây thao.

    Tin Lê Văn Duyệt xét xử Tống Thị Quyên về tới Gia Định. Người đưa tin kể rành rọt khoảng khắc Thái tử phi bị hành hình. Đỗ Thị Phẫn đau đớn tột cùng. Bởi bà với Thái tử phi giao tình thân thiết. Những năm tháng ở Phú Xuân, Đỗ Thị Phẫn thường lui tới tư dinh Thái tử phi thêu thùa, đàn hát, làm thơ xướng họa. Hoặc đi dạo trong hoa viên dưới những khóm hoa điệp vàng, ra hồ sen ngồi trên ghế đá thưởng hoa, trò chuyện tâm tình. Từ khi Hoàng thái tử qua đời, Thái tử phi hết lòng yêu thương nuôi dạy con thơ. Một người thanh cao, đức hạnh, biết cam phận như Thái tử phi không thể làm chuyện xấu xa đê tiện như phường thấp hèn hạ đẳng. Sao Tả quân lại hồ đồ xử án oan sai, nỡ ra tay tàn độc với người phụ nữ hiền thục đó?

*

*    *

      Một buổi chiều mưa tầm tã, Lê Văn Duyệt từ kinh thành về tới Gia Định. Đỗ Thị Phẫn liền đến gặp ngay. Bước vào thư phòng, bà bỗng đứng sững lại. Lê Văn Duyệt ngồi bất động như hóa đá, hai tay ôm lấy đầu. Những vết nhăn hằn sâu trên trán. Tóc như bạc trắng thêm. Một lúc sau, Tả quân ngước lên, giọng nghẹn ngào:

      – Nhà vua ép ta vào chỗ bất nhân bất nghĩa.

     Không chờ Đỗ Thị Phẫn hỏi, Lê Văn Duyệt kể, chậm rãi, rõ ràng. Từng câu từng chữ như nén chặt trong lòng giờ bộc phát ra. Minh Mạng không quên hội nghị đình thần bàn ngôi thái tử năm Ất Hợi, vẫn luôn nghi ngờ ông. Giao xử vụ án này là đẩy vào thế khó. Mục đích nhà vua muốn ly gián ông và hoàng tôn mãi mãi. Còn làm trái ý nhà vua thì hiểm họa khôn lường. Bao nhiêu đại thần phải chết oan ức. Vụ án Tiền quân còn rành rành ra đó. Ở thế cùng, ông không còn cách nào khác… 

     Đỗ Thị Phẫn không ngờ Tả quân lại như thế. Một Tổng trấn Gia Định oai quyền tột đỉnh, đã dám chém cả Quốc trượng Huỳnh Công Lý, Phó Tổng trấn Gia Định vì tội nhiễu hại dân lành. Người đã bất chấp chỉ dụ cấm đạo của triều đình, dưới quyền cai quản của Tả quân, các nhà truyền giáo ung dung đi lại, giáo dân vẫn yên ổn làm ăn, không phải trốn chui trốn nhủi. Người đã gieo bao ân đức, làm cho cả vùng đất phương Nam trở nên phồn thịnh, lương thực đủ đầy, sản vật phong phú, giao thông buôn bán tấp nập. Người sống giản dị, thanh đạm, chân thành, cởi mở, không phân biệt sang hèn, được dân chúng trọng vọng như bậc thánh. Vậy mà trong phút chốc đã trở thành kẻ tham sinh úy tử làm một việc trái với lương tâm để tiếng xấu đến muôn đời sau. Cái góc khuất bên trong Tả quân bỗng hiển hiện rõ ràng hơn bao giờ hết. Một gương mặt lạ lẫm, u tối, nặng nề… Đỗ Thị Phẫn không biết phải nói gì với Tả quân lúc này, bà quay người đi vội vàng ra cửa…

     Từ hôm ở kinh về, Tả quân thường bẳn hẳn, cau có, không thiết tới việc chính sự. Năm Mậu Thìn, Tả quân lâm bệnh, Đỗ Thị Phẫn túc trực bên giường hết sức cứu chữa. Nhưng bệnh ngày càng trầm trọng. Hôm đó, bệnh nguy kịch, sức đã kiệt. Tả quân nhìn trần nhà trân trân, chợt môi mấp máy:

      – Tiền quân… Thái tử phi… Tha thứ… cho tôi…  

     Giọt lệ ứa ra trên hốc mắt sâu hoắm lăn xuống gò má nhăn nheo. Thì ra, chuyện Tiền quân, Thái tử phi luôn nhức nhối trong lòng Tả quân, đau đáu đến lúc lâm chung. Chưa bao giờ Đỗ Thị Phẫn thấy phu quân khổ lụy đến thế. Bà nhận ra Tả quân cũng chỉ là nạn nhân của vương quyền bạc ác. Đỗ Thị Phẫn ôm chầm lấy Tả quân. Lần đầu tiên trong đời, bà ôm người chồng với tất cả niềm kính trọng yêu thương… Tả quân hắt hơi thở cuối cùng. Mắt vẫn mở trao tráo…  

 *

*    *

     Năm Ất Mùi, do bị ép vào đường cùng, Lê Văn Khôi, con nuôi của Lê Văn Duyệt nổi dậy chống lại triều đình. Cuộc bạo loạn bị dập tắt. Minh Mạng liền dụ cho đình thần nghị tội Tả quân. Giậu đổ bìm leo, những kẻ ghét Tả quân, nhân đó muốn lập công với vua mặc sức đổ dầu vào lửa. Kết quả Tả quân bị khép bảy tội trảm, hai tội giảo… Nhưng tội nhân đã chết không thể thụ án. Minh Mạng ra lệnh cho Tổng trấn Gia Định san phẳng mộ và dựng lên đó tấm bia viết mấy chữ “Quyền yêm Lê Văn Duyệt phục pháp xứ”. Đỗ Thị Phẫn được tha vì Lê Văn Duyệt là quan hoạn nên không được coi là vợ.

     Cũng năm ấy, đến ngày giỗ Tả quân, từ sáng sớm, Đỗ Thị Phẫn đã ra mộ quét dọn sạch sẽ. Người phụ nữ dung dị, đầu điểm bạc, dáng liêu xiêu bày biện hoa quả, thắp đèn nhang cúng bái. Không gian âm u tĩnh lặng. Hương khói xua tan sự đìu hiu của mộ phần. Đỗ Thị Phẫn đứng thật lâu, ngậm ngùi thương cảm cho bậc anh hùng khi sống thì ngang dọc lẫy lừng, lúc mất lại trở thành kẻ tội đồ dưới ba tấc đất. Nhưng người dưới mộ thì đã yên phần. Còn Thái tử phi? Đỗ Thị Phẫn lại chạnh lòng xót xa. Bao năm qua, Thái tử phi phải cô quạnh, lạnh lẽo ở nơi nào dưới dòng sông Hương xanh biếc soi bóng kinh thành đường bệ uy nghi?

Please follow and like us: