Ám ảnh-PHẠM HỮU HOÀNG

Thế là bạn thân, học cùng lớp với Văn suốt bốn năm Đại học Xây dựng Thành phố Hồ Chí Minh, quê ở An Giang. Một hôm Thế rủ: “Hè này, về nhà tao chơi. Tao đưa mày đi cho biết sông núi miền Tây”. Văn trù trừ mãi vẫn chưa nhận lời. Tính khi nay vẫn thế, rất ngại khi phải đến nơi đất lạ xứ người. Thế nói: “Làm thằng đàn ông mà việc nhỏ rức như thế cũng lừng khừng không quyết thì sau này đố mày làm nên chuyện gì. Còn nữa, có người hỏi thăm mày luôn”. “Ai vậy?”. “Cái đầu mày chứa toàn đồ án, thiết kế, sắt thép, bê tông hay sao lại hờ hững như vậy. Mới mà đã quên bén rồi. Diệu Phương chứ còn ai nữa”. Làm sao quên được người con gái phương Nam có mái tóc dài mượt mà, nụ cười rất duyên, ánh mắt thân thiện, dễ mến? Diệu Phương là bạn của Thế, công tác ở công ty lữ hành tỉnh An Giang. Lần đó, Diệu Phương có việc lên Thành phố Hồ Chí Minh, nhân tiện ghé nhà trọ của Thế thăm. Thế gọi Văn tới. Tối đến, cả ba ra ngồi trên khoảng sân nhỏ. Trăng lên, dưới ánh trăng, Văn đệm ghi ta cho Diệu Phương hát. Diệu Phương rất thích ca vọng cổ. Cô hát bằng chất giọng êm ngọt mùi mẩn đến say lòng. Tiếng đàn, tiếng hát ngân nga hòa quyện làm thổn thức trăng khuya… Thế xuýt xoa: “Tao thấy tụi bây như một cặp đôi trời sinh đó”. Diệu Phương ngượng nghịu lườm Thế một cái: “Ông kì ghê. Tui nghỉ chơi luôn”. Diệu Phương về lại miền Tây, Văn tiễn ra đến tận xe. Xe nổ máy, Diệu Phương còn nghiêng người ra ô cửa nói: “Mời anh về thăm An Giang nhen”. Văn gật đầu. Xe lăn bánh. Văn nhìn theo tới khi xe khuất hẳn…

Thế hỏi: “Sao? Dứt khoát chưa?”. Văn đáp: “Thì đi vậy”. Thế nói như reo: “Có vậy chứ. Mày đồng ý rồi nhé. Tao lên kế hoạch đây”. Ở quê, Thế có mấy người bạn tri kỉ. Cả nhóm đón nhận Văn như người quen thân đã lâu. Diệu Phương vui lắm. Cô xin công ty nghỉ phép mấy ngày để làm hướng dẫn viên cho nhóm bạn. Bắt đầu bằng chuyến đi thuyền trên kênh Vĩnh Tế, ngắm cảnh sông nước mênh mang mùa nước nổi. Hôm sau, xuôi theo các con rạch len lỏi qua những cánh rừng tràm ngút ngàn, ngắm những chú cò, cồng cộc bình thản đứng trên cành cây la đà soi mình dưới nước. Rồi đến núi Ba Thê, thăm vương quốc Phù Nam, viếng Linh Sơn Cổ Tự cổ kính thâm nghiêm. Diệu Phương giới thiệu, thuyết minh tường tận từng di chỉ, di vật của nền văn hóa Óc Eo và đưa ra lời nhận xét tinh tế, thú vị làm Văn càng thích thú. Cùng Diệu Phương rong ruổi qua các danh thắng An Giang, đến chỗ nghỉ, cùng các bạn quây quần đàn hát tưng bừng, Văn được sống những ngày hào hứng, sôi nổi, vui chưa từng có trong đời. Bữa trưa hôm ấy, Diệu Phương ân cần múc vào chén Văn món cá linh nấu với bông điên điển ngọt lịm: “Đặc sản quê em, ăn rồi sẽ nhớ mãi An Giang”. Văn xao xuyến bồi hồi: “Anh sẽ không bao giờ quên An Giang! Không bao giờ quên em!”. Diệu Phương xúc động ngước nhìn Văn, mắt long lanh: “Nhớ nghen! Anh hứa đi!”. Văn hứa. Hứa với Diệu Phương. Và hứa với chính mình.

Diệu Phương thông báo: “Ngày mai, nhóm mình sẽ cắm trại trên Thiên Cấm Sơn”. Diệu Phương giới thiệu với Văn, ngọn núi này cao nhất đồng bằng sông Cửu Long, là thắng cảnh bậc nhất An Giang. Khí hậu trên đó trong mát, cây cối xanh tươi, không gian thanh tĩnh. Diệu Phương kể về những huyền thoại li kì bí ẩn về Thiên Cấm Sơn làm Văn thêm háo hức. Hành trình leo núi khá vất vả, theo lối mòn lên từng nấc thang, bậc đá. Qua được nửa chặng đường, phải vượt một con dốc cao. Diệu Phương có vẻ mệt, bước lểnh thểnh. Văn đợi. Cả hai tụt lại sau. Thấy một bóng râm dưới tán cây, Văn bảo: “Mình nghỉ một chút”. Diệu Phương tháo ba lô mang trên vai để xuống tảng đá. Văn lấy khăn tay lau mồ hôi lấm tấm trên trán Diệu Phương rồi bất chợt ôm lấy cô. Diệu Phương nép đầu vào vai Văn… Thế đột ngột xuất hiện ngay chỗ ngoặt lưng chừng dốc, vui vẻ: “Bắt quả tang rồi! Thôi! Để lúc khác mặc sức tâm tình. Các bạn đợi trên kia. Ráng lên tới đỉnh dốc rồi nghỉ luôn”.

 

*

“Em nhìn làn sương mờ ảo trên mặt hồ kia! Khi thì nó dừng lại ngẩn ngơ, khi thì nó nghiêng mình e thẹn, rồi chậm rãi lướt êm về chóp núi mù xa”. Diệu Phương nói: “Dân kĩ thuật mà cũng lãng mạn ghê”. Buổi sớm tinh mơ, chung quanh vắng lặng, chỉ có làn gió liu riu thoáng qua mát lạnh. Cả hai ngồi trên thảm cỏ mềm bên hồ Thủy Liêm trên Thiên Cấm Sơn đón ánh vàng đằng đông. Xa xa, những ngôi chùa cổ kính trầm mặc ẩn hiện dưới những vòm lá xanh mượt, cảnh vật bồng bềnh trong sương, phiêu diêu, thoát tục. “Anh nghĩ gì mà thừ người ra vậy?”, Diệu Phương bất chợt hỏi. Văn bồi hồi, ngập ngừng: “Anh muốn…”. Diệu Phương liếc nhìn một cái rất nhanh rồi đưa ngón tay đè lên môi Văn: “Cấm nghĩ bậy. Núi Cấm thiêng lắm! Cấm đấy!”. Quả thật, Văn muốn hôn lên làn môi phơn phớt hồng, vồng ngực căng mẩy phập phồng, đè lên cơ thể con gái thơm mềm quyến rũ như cỏ non, thỏa mãn đòi hỏi đang trỗi dậy thiêu đốt trong người. Nhưng có một cái gì ngăn lại. Bởi trông Diệu Phương lúc này thật lạ, không hoạt bát vui vẻ như mấy ngày qua. Dáng trầm lặng, u ẩn, thỉnh thoảng thở dài như mang tâm trạng não nề. “Em sao vậy?”. “Không biết nữa. Mỗi lần lên trên này, em không sao vui được. Thôi mình nói chuyện khác”. “Chuyện gì?”. “Kể về quê anh đi”. Chiều ý vậy. Văn kể về một tỉnh miền Trung ruộng đồng cằn cỗi, chật hẹp như ô bàn cờ chứ không thẳng cánh cò bay như ở trong này. Nhà Văn ở gần biển. Hi vọng có ngày sẽ đón Diệu Phương ra thăm. Không gì thú vị bằng ngồi trên bờ cát thoai thoải vào lúc hoàng hôn, ngắm màu tím ngăn ngắt trên mặt biển mênh mông. Mắt Diệu Phương sáng lên: “Thiệt hén!”. Văn gật đầu, vuốt nhẹ mái tóc êm mượt của Diệu Phương. Cả hai ngồi tựa vào nhau ngắm màn sương trên mặt hồ tan dần dưới ánh mặt trời…

 

*

Theo kế hoạch, ngày cuối cùng ở An Giang, Thế dẫn Văn đến nhà Diệu Phương ở thị trấn Ba Chúc, huyện Tri Tôn. Văn ngẫm nghĩ: “Không biết Diệu Phương sống như thế nào? Gia cảnh ra sao? Chắc có nỗi buồn riêng. Có thể chia sẻ được không? Còn gì vui hơn được giúp đỡ người con gái mình yêu thương”. Thế dắt xe máy ra. Trông bộ dạng Văn, phì cười: “Chà! Trông mày có vẻ nôn nao. Lưu luyến dữ rồi nghen”.

Nhà Diệu Phương nằm ven đường lộ. Đó là ngôi nhà cấp bốn. Phía trước là khoảng sân nhỏ có giàn bông giấy che ngang. Diệu Phương vui mừng ra tận cổng đón. Trong nhà vắng vẻ. Văn hỏi: “Ba má em không có ở nhà sao?”. Gương mặt Diệu Phương bỗng sa sầm xuống. Thế cũng không nói nửa lời. Văn thắc mắc: “Có chuyện gì vậy?”. Diệu Phương nói: “Anh đi với em”. Thế chen vào: “Diệu Phương sẽ cho mày biết. Mày lấy xe chở cô ấy đi. Tao coi nhà cho”. Văn chạy một đoạn rồi rẽ phải theo sự chỉ dẫn của Diệu Phương. “Nhà mồ Ba Chúc”. Diệu Phương nói: “Đây là nơi lưu giữ hài cốt hơn một ngàn trong tổng số ba ngàn một trăm năm mươi bảy người dân thị trấn Ba Chúc bị bọn Pol Pot sát hại vào tháng tư năm một nghìn chín trăm bảy mươi tám”. Vào nhà mồ, Văn rùng mình, sởn gai ốc trước vô số xương cốt chất chồng lên nhau trong các ô kính, những hộp sọ mốp méo, rạn nứt, hốc mắt trống rỗng uất ức. Bỗng Diệu Phương gục đầu vào ngực Văn, bàn tay run rẩy bấu chặt vào vai, nước mắt ứa ra, nghẹn ngào: “Trong các ô kính đó có xương cốt ba, má, em trai em”. Văn sững cả người. Lòng trào dâng nỗi xót thương người con gái nhỏ nhoi, tội nghiệp đang bám víu vào mình. Văn dìu Diệu Phương bước qua phòng bên cạnh. Đây là nơi trưng bày di ảnh, di vật của cuộc thảm sát. Trước mắt Văn là những tấm ảnh phóng to treo trên tường chụp thi thể những đứa trẻ sơ sinh bị xé làm đôi; thiếu nữ bị đâm gậy tầm vông vào chỗ kín, thây người la liệt dưới bàn thờ Phật, máu đọng thành vũng dưới nền, bám loang lổ trên các bức vách… Không ngờ ở đây đã xảy ra thảm cảnh quá đỗi thương tâm. Bao nhiêu sinh mạng người dân vô tội bị tước đoạt một cách oan ức. Tội ác bọn Pol Pot gây ra trên mảnh đất này quá dã man.

Chia tay Diệu Phương, trên đường trở về, Thế cho biết thêm bọn chúng sát hại tàn độc không chừa một ai, nhiều gia đình, tộc họ bị xóa sổ chỉ sau một đêm. Những ngày đen tối đó, thị trấn Ba Chúc chìm trong máu lửa, tang tóc. Một thời gian dài, Ba Chúc xác xơ u tịch, người dân lầm lụi âm thầm như chiếc bóng, không tiệc tùng, hát hò giải trí. Ban đêm ít người qua lại, đâu đâu cũng vang lên tiếng tụng kinh gõ mõ cầu siêu cho oan hồn người thân vất vưởng.

Thế kể, hôm đó, những kẻ man rợ bất ngờ vượt biên giới tiến vào Ba Chúc. Súng nổ tứ phía. Cả nhà Diệu Phương dắt díu theo bà con làng xóm chạy vào núi lánh nạn. Mọi người sợ hãi ẩn nấp trong hang đá. Sáng hôm sau, chúng phát hiện, đứng trên miệng hang lạnh lùng chỉa súng nã đạn. Chúng ném lựu đạn vào các ngách. Tiếng súng nổ ran, tiếng lựu đạn chát chúa, tiếng kêu thét đau đớn, người hấp hối quằn quại. Chúng bắn cho tới khi không còn thấy ai cử động. Quân ta phản công quyết liệt, chúng chống cự không nổi, tháo chạy tán loạn. Bộ đội, dân quân tìm tới hang. Dưới hang, chỉ còn vài người ôm vết thương nằm co quắp rên rỉ giữa lớp lớp xác người. Còn Diệu Phương thì ngồi bệt trên vũng máu, mệt lả vì đói khát, khóc không ra tiếng. Máu quện vào tóc, máu bê bết khắp mình mẩy. Không biết nhờ phép mầu nào Diệu Phương vẫn lành lặn. Mồ côi, không nơi nương tựa, Diệu Phương như một cây non đơn độc lớn lên trong sự nuôi nấng đùm bọc, yêu thương của bà con xóm làng. Trong lòng hằn sâu một vùng tối u nhức. Nhiều đêm, Diệu Phương vùng dậy, ngồi trên giường, mắt thất thần nhìn đăm đăm vào khoảng không trước mặt… Không ít lần, hét toáng lên trong mơ: “Máu! Máu! Ba má ơi!” Mọi người nâng niu vun đắp từng chút, giúp cô ấy quên đi kí ức đau buồn, tìm được niềm vui sống. Diệu Phương đã vượt qua bằng một nghị lực phi thường. “Diệu Phương như mày đã biết, phơi phới, đáng yêu biết chừng nào. Từ khi gặp mày, cô ấy tin tưởng và hi vọng biết bao. Tao cũng mừng, mong tụi bây được hạnh phúc”…

*

Tốt nghiệp đại học, Văn về quê làm trong Công ty xây dựng tư nhân do người cha làm giám đốc. Từ nhỏ, Văn đã được cha mẹ cưng chiều, lo cho đầy đủ. Người cha  muốn Văn kế tục quản lí công ty sau này. Văn hăm hở làm việc, không quản thời gian, không ngại khó khổ. Tất bật là thế, Văn vẫn thường xuyên điện thoại, nhắn tin, trò chuyện với Diệu Phương. Nỗi nhớ ngui ngút trong lòng. Mấy lần Văn định vào An Giang. Mẹ thấy vậy dò hỏi. Văn kể hết ngọn nguồn sự việc. Mẹ Văn ôn tồn nói: “Con nhỏ đó kể ra cũng tội thiệt. Nhưng con không thể cưới làm vợ được, vì ba má đã chọn một đứa rồi”. Văn hỏi: “Ai vậy?”. “Hạnh Liên”. Văn buột miệng kêu lên: “Là… Hạnh Liên?”. “Má thấy nó có tình ý với con. Mẹ nó cũng bằng lòng gả. Mọi việc thuận lợi cả”.

Nhà Hạnh Liên với gia đình Văn là chỗ ơn sâu nghĩa nặng. Chú Tư An, ba Hạnh Liên và ba Văn cùng đi bộ đội, chiến đấu trong một đơn vị bên chiến trường Campuchia vào năm một nghìn chín trăm tám mươi. Chú đã hi sinh để cứu sống ba Văn. Hạnh Liên là giọt máu duy nhất còn lại của chú ấy. Ba má Văn coi Hạnh Liên như con. Mấy năm học đại học, mối lần về quê nghỉ hè, Hạnh Liên thường qua nhà nhờ chỉ thêm toán. Có khi, Văn giảng đi giảng lại một bài toán khó, Hạnh Liên lơ mơ không chú ý, “thầy” Văn phát cáu: “Chỉ có trời may ra chỉ cho em hiểu”. Hạnh Liên nói lẫy: “Không thèm nhờ anh nữa!”. Nhưng được vài hôm. Hạnh Liên lại qua nhà, thấy Văn, cười tủm tỉm làm lành. Nhưng nghĩ tới Diệu Phương, Văn dùng dằng chưa chịu: “Con không muốn lấy vợ”. Người mẹ tức giận, đổi giọng: “Mày không nghe lời thì đừng nhìn mặt tao nữa! Ơn chú ấy cả đời này, nhà mình không trả hết được đâu”. Văn không thể thuyết phục ba mẹ và thật lòng cũng không thuyết phục nổi chính mình. Làm sao trở thành kẻ bội nghĩa với người đã hi sinh để cứu sống ba? Nếu không có cái chết của chú ấy thì gia đình mình giờ như thế nào? Hạnh Liên chịu nhiều thiệt thòi từ lúc bé. Nhưng… Còn Diệu Phương? Người con gái nhỏ nhoi ấy sẽ bị tổn thương, đau đớn biết chừng nào? Giờ phải làm sao đây? Buồn. Văn mượn rượu giải sầu. Lân la tới các nhà hàng, quán bar nhậu nhẹt, bù khú. Những bóng hồng vây bủa, má tựa vai kề, ngập ngụa mùi phấn son. Đêm ấy, chếnh choáng men rượu, say sưa dìu bạn nhảy bước điệu đà trong tiếng nhạc xập xình, Diệu Phương gọi điện. Văn không bắt máy. Cũng không gọi lại. Diệu Phương gửi tin nhắn: “Anh không trở lại An Giang với em nữa phải không?”. Văn im lặng. Tin nhắn cuối cùng của Diệu Phương: “Em hiểu rồi. Anh không cần nói gì thêm”… Người mẹ cứ rỉ rục bên tai: “Mày chơi bời hư đốn thế là đủ rồi. Thôi! Lo cưới vợ về còn lo tu chí làm ăn để có ngày mở mày mở mặt với người ta”. Một hôm, bà gọi Văn tới, nhỏ nhẹ: “Ba má đã bàn kĩ rồi. Sẽ chọn ngày lành tháng tốt qua bên ấy dạm ngõ. Ý con thế nào?”. Văn mệt mỏi, chán chường: “Tùy mẹ”.

 

*

Đám cưới Văn và Hạnh Liên diễn ra linh đình. Vợ chồng Văn ra ở riêng. Năm tháng qua đi, cuộc sống Văn đều đều phẳng lặng như được lập trình sẵn, sáng đi làm, tối về. Bề ngoài, tưởng chừng hạnh phúc đủ đầy. Nhưng trong lòng vẫn không quên được Diệu Phương. Sự tiếc nuối, ân hận day dứt như vết khứa vào tim, ngày càng âm ỉ, quặn thắt. Đêm đến, nằm trên giường, đôi lúc khó ngủ, thao thức tới khuya. Khi chợp mắt, thường xuất hiện những giấc mơ lạ… Một cái hang đá lạnh lẽo. Ánh trăng xuyên qua miệng hang tỏa một vòm sáng nhợt nhạt. Dưới hang, một cô bé ngồi co ro bên những thi thể lạnh ngắt. Cô bé đứng dậy, khắp người nhuộm đỏ máu. Gương mặt cô bé rõ dần… Diệu Phương!… Bỗng tất cả biến mất. Chỉ còn một quầng sáng chói chang… Có lần, chung quanh Văn không biết bao nhiêu là sọ người khô khốc, xương cốt chất chồng trắng hếu. Chợt những sọ người lắc lư, xương cốt chuyển động biến thành vô số hình hài, đủ mọi lứa tuổi, mắt u uất, hai tay đưa về phía trước như muốn đòi lại sự sống. Bất chợt trong số đó có một bóng dáng quen thân. Không nhầm lẫn được. Văn muốn kêu mà miệng cứ lắp bắp không thốt ra lời…

Hạnh Liên bảo: “Anh mớ ngủ thường ú ớ những lời kì lạ lắm như bị ma ám vậy. Chắc thần kinh có vấn đề rồi. Nên đến bác sĩ khám thử coi”. Văn giật mình chống chế: “Không có gì đâu. Công việc dạo này căng thẳng. Ít hôm sẽ tự khỏi thôi”. Văn lo sợ Hạnh Liên biết niềm riêng ủ kín trong lòng, nhưng không làm cách nào kìm giữ được… Văn lại mơ thấy ngồi trên thuyền giữa hồ nước mênh mông. Loáng thoáng chung quanh những ngôi chùa ẩn hiện trong làn sương mờ đục, làn nước mặt hồ trắng bạc sáng dần lên dưới ánh mặt trời. Chợt một giọng nói êm ái quen thuộc: “Mời anh món cá linh nấu với bông điên điển. Đặc sản quê em đấy. Ăn rồi nhớ mãi nghen anh”. “Anh hứa không bao giờ quên em. Anh sẽ đưa em về nhà ra mắt ba mẹ, họ hàng, bạn bè…”. Bỗng… chung quanh trống không. Văn nhìn quanh quất, kêu to: “Diệu Phương!”

Hạnh Liên lay chồng dậy hỏi: “Diệu Phương là ai?” Văn mở mắt ngơ ngác, người vợ nhắc lại câu hỏi. Văn lúng túng không biết trả lời thế nào. Hạnh Liên nổi ghen: “Anh nói đi, Diệu Phương anh vừa gọi đó có phải đang cặp bồ với anh không?”. Văn ấp úng: “Không! Không phải như… em nghĩ đâu”. Hạnh Liên lắc đầu, mặt tái nhợt: “Tôi không tin. Thì ra, lâu nay anh đã lừa dối tôi. Trời ơi! Tôi làm gì nên tội mà anh nỡ đem lòng phụ bạc!”. Văn vẫn im lặng. Hạnh Liên khóc nức nở, giọng ấm ức: “Chỉ vì cái con hồ ly tinh Diệu Phương đó. Anh nói đi, nó ở đâu? Làm gì? Sao lại nhẫn tâm phá hoại gia đình người khác?”. Nghe nói thế, Văn nổi tức quát: “Cô muốn chửi mắng tôi thế nào thì tùy, nhưng cấm không được gọi Diệu Phương như vậy”. Hạnh Liên không giữ được bình tĩnh: “A! Anh còn bênh vực nó nữa, không coi tôi ra gì. Anh đối xử tàn tệ với tôi thế này à?”. Hạnh Liên vùng vằng đứng dậy đi ra. Mấy ngày liền, ở lì trong phòng riêng, vợ chồng không gặp mặt. Văn buồn. Nhưng không trách gì vợ. Cũng không biết phải làm thế nào cho Hạnh Liên hiểu. Có lẽ, cả đời này Hạnh Liên khó mà hiểu được uẩn khúc trong anh…

Nhưng chiều hôm đó, Văn đi làm về, vừa bước vào phòng khách đã thấy Hạnh Liên chờ sẵn từ lúc nào. Gương mặt khác với mọi lần, trông rất lạ, không còn cáu kỉnh, nhăn nhó nữa. Văn ngồi xuống ghế đối diện. Hạnh Liên dịu dàng nói: “Mẹ anh đã kể cho em nghe đầu đuôi sự việc. Em đã trách lầm anh. Chị ấy đáng thương quá. Phụ nữ tụi em thường có nỗi khổ riêng. Ba hi sinh khi em còn quá nhỏ. Em đã nếm trải sự thiếu thốn, mất mát của một đứa trẻ không cha. Nhưng nỗi đau mà chị ấy phải chịu đựng nhiều hơn gấp bội lần, thật là quá sức tưởng tượng”. Văn xúc động bước lại ngồi bên Hạnh Liên: “Anh có lỗi với em!”. Hạnh Liên nắm bàn tay chồng buồn rầu: “Người anh có lỗi chính là chị ấy”. Văn nghèn nghẹn: “Anh nợ Diệu Phương một lời hứa. Đời này không thể nào trả được!”…

 

*

“Miếu Bà Chúa Xứ ở núi Sam tỉnh An Giang thiêng lắm, cầu gì được nấy. Đã có nhiều ứng nghiệm”. Mấy người quen của Văn rỉ tai nhau. Họ rủ Văn: “Sắp tới là ngày vía Bà. Bọn tôi hành hương về miếu Bà cầu phù hộ. Ông có tâm nguyện gì thì cùng đi luôn”. Văn đăng kí tham gia. Có cái gì thôi thúc phải thực hiện chuyến đi này. Hạnh Liên đồng ý với chồng. Vượt qua hơn ngàn cây số, đoàn người hành hương nghỉ đêm tại khách sạn dưới chân núi Sam. Sáng hôm sau, Văn lẳng lặng gọi taxi đi thị trấn Ba Chúc. Ngồi trên xe, Văn hồi hộp, bâng khuâng, ngổn ngang trăm mối…

Tới nơi, mặt trời đã lên cao. Ánh nắng sáng vàng cảnh vật. Văn bồi hồi đi bộ trên con đường nhựa phẳng phiu. Hai bên đường, dưới bóng cây xanh, nhà cửa san sát, hàng quán sầm uất, cảnh mua bán náo nhiệt, người xe tấp nập, tiếng cười nói rộn ràng. Đó đây những ngôi chùa khang trang, kiến trúc cổ xưa độc đáo, chạm trổ sắc nét. Thị trấn Ba Chúc sôi động, gấp gáp tươi trẻ trong nhịp sống mới. Cây dầu ba trăm năm tuổi vẫn đứng sừng sững giữa đường như lưu giữ mãi một dấu ấn của ngày xưa. Nhà Diệu Phương ở gần đấy. Văn đưa mắt tìm kiếm. Đây rồi. Vẫn khoảng sân nhỏ có giàn bông giấy che ngang. Cổng khóa ngoài. Văn ghé vào một quán nước chếch bên kia đường gọi một ly cà phê đen. Chủ quán là một phụ nữ tuổi chừng sáu mươi bưng ly cà phê đặt trên bàn, Văn hỏi: “Kia là nhà Diệu Phương phải không ạ?”. Nhìn theo ngón tay Văn chỉ, bà chủ quán gật đầu: “Ừ, nhưng cả nhà đi vắng rồi”. Bà vồn vã nói tiếp: “Sáng nay, cô ấy đi làm. Con đi học. Chồng đi bệnh viện khám bệnh”. “Ảnh bị bệnh gì?”. Bà chủ quán chép miệng: “Chú ấy là thương binh thời đánh Pol Pot, vào lúc sắp kết thúc chiến tranh rủi ro sao lại bị một viên đạn vào đầu. May mà không chết. Thỉnh thoảng vết thương lại tái phát, đau nhức, phải đến bệnh viện kiểm tra”. Bà chủ quán nói tiếp: “Nghe giọng, biết chú là người nơi khác đến. Cần nhắn gì cho cô ấy, tôi sẽ giúp cho”. “Dạ không! Cảm ơn bà”. Văn trả tiền rồi đi về phía nhà mồ Ba Chúc. Vừa bước lên thềm nhà mồ, Văn lặng người khi nghe giọng quen thuộc của Diệu Phương. Nép vào một góc khuất, Văn nhìn về phía đó. Diệu Phương vẫn không thay đổi nhiều, vẫn mái tóc mượt mà, đôi mắt dễ mến… Sống mũi Văn cay cay… Một tốp khách du lịch đang chăm chú nhìn các ô kính trưng bày và nghe Diệu Phương thuyết minh về tội ác của bọn Pol Pot. Diệu Phương nói bằng giọng xúc động như giải bày nỗi lòng với những khách du lịch, những người sẽ mang hình ảnh nhà mồ Ba Chúc này như một nỗi đau đời không thể nào quên… Văn nấn ná thêm một lúc, rồi lặng lẽ quay về khách sạn.

Vào chánh điện miếu Bà Chúa Xứ, người người thành kính, trang nghiêm, dâng lễ vật cầu khẩn. Văn đến trước bàn thờ, đốt hương khấn: “Cầu mong ơn Bà phù hộ cho Diệu Phương luôn được hạnh phúc như niềm vui đến từng ngày trên Ba Chúc hôm nay”.

 

                                       Tháng 9 năm 2018

Please follow and like us: