Kiếp chó-MC AMMOND NGUYỄN THỊ TƯ

 

Khiếp, cái mùi của nó, từ đằng xa tôi đã ngửi thấy. Lại nó. Thằng quỷ Lucifer.
Thực ra tên nó là General. Nghe như một thành viên SS của Hít-le chứ oách gì! Nhưng tôi nghĩ đặt nó là Lucifer mới phải hơn. Lúc ông chủ tôi còn sống, ông thường dùng cái tên Lucifer để ám chỉ lũ đàn ông bất kể trẻ già hay bâu đến ve vãn bà Elizabeth người phụ nữ Việt Nam xinh đẹp của ông, bây giờ trở thành bà chủ mới của tôi. Thằng becgie Ðức này cũng chẳng khác gì cánh đàn ông đó, suốt ngày mưu manh tìm cách chim chuột nàng Sherry kiều diễm nhưng nhẹ dạ của bà Elizabeth.
Ôi, giá như tôi vẫn còn sức như ngày nào để có thể chở che Sherry. Tôi cứ ước. Nhưng ngay khoảnh khắc này Sherry đang ở sát bên tôi, trong gian nhà kín đáo, vừa vặn chỗ cho hai chúng tôi nằm. Tôi cảm giác một thứ hơi ấm hết sức dễ chịu bên dưới bộ lông dài óng mượt từ cơ thể tuyệt đẹp của nàng đang truyền râm ran sang người tôi. Sherry chui vào với tôi từ sáng đến giờ. Giống như sáng hôm qua. Không nói gì.  Chỉ lặng thinh liếm đi liếm lại khắp mắt, mũi, miệng và tai tôi, rồi nằm xuống bên cạnh, lim dim như ngủ. Cặp mắt đóng ghèn từ đêm của tôi nhờ cái lưỡi nàng liếm láp đã nhẹ vơi đi. Bây giờ tôi có thể mở hí ra một chút được.
Vướng cái tấm vải che ô cửa, tôi không nhìn thấy thằng Lucifer, nhưng có thể hình dung cái bóng dáng to đen trùi trủi của nó với đôi tai dựng đứng y hệt hai cái ngà quỷ. Chắc nó đang rảo tới rảo lui bên kia hàng rào giống như thằng điên, chốc chốc nhảy cẫng lên khụt khịt đánh hơi Sherry bên này. Cái thằng khéo vờ vịt. Tôi đoán bữa nay ông bà chủ nó ở nhà, nên nó ra bộ đàng hoàng vậy thôi, chứ cái hàng rào gỗ cao cỡ đó ăn thua gì với thằng bẹc-giê còn trai tráng này. Nhà chủ nó mới dọn tới cạnh nhà chủ tôi hơn hai tuần nay. Hôm họ dọn tới, bên này ông Jack, chồng mới cưới của bà Elizabeth, cũng cất xong một chỗ ở mới dành riêng cho tôi, ngay góc vườn đằng sau, giáp lưng cái nhà xe. Căn nhà của tôi ghép sơ sài bằng những mảnh ván ép, sàn lót tấm thảm cũ dầy ụ. Ở cái ô cửa nơi tôi chui ra chui vào bà Elizabeth giăng một tấm vải bông, bảo: “Ðể nếu có gió hay mưa, mày đỡ lạnh.” Tôi thầm cảm ơn người đàn bà đã từng làm ông chủ tôi mê đắm.  Có lẽ bà cũng còn nghĩ chút tình với ông tôi nên không dằn hắt tôi quá đáng.
Từ khung cửa nhà tôi, tôi có thể nhìn thấy sân sau nhà thằng Lucifer cách có cái hàng rào gỗ. Chiều hôm qua tôi gượng dậy được một lúc, ló đầu ra ô cửa, thấy ông chủ nó bắc thang trèo lên cây crabberry khổng lồ cao vượt mái nhà, hái những trái táo dại chín đỏ rực chuyền xuống cho bà vợ đứng bên dưới. “Loại này chua không ăn được, nhưng làm mứt hoặc rượu rất ngon.” Tôi nghe ông nói với vợ. Qua mấy khe hở của cái hàng rào gỗ cũ kỹ, tôi thấy thằng becgie ngoan ngoãn xớ rớ gần bên gốc cây. Lâu lâu bà chủ ra lệnh cho nó lùi ra xa, rồi ném quả táo nhỏ lên cao về phía nó. Nó điệu bộ phóng lên hứng trọn trái táo vào miệng, xong chạy hổn hển trở lại, nằm mọp xuống chân bà, nhả quả táo xuống đất. Thật tình mà nói, tôi nhìn mà ngứa cả mắt, muốn bệnh thêm. Thứ trò ấy, chó con mới đẻ cũng làm được. Vậy mà bà chủ của thằng Lucifer cứ rú lên tán dương nó. Còn ông chủ nó đang tít trên cây táo cũng ngó xuống ngắm nghía nó làm trò, câng mặt tự hào. Rõ những con người ngớ ngẩn!
Cái thằng này, thể nào nó cũng làm Sherry có bầu. Nghĩ tới đây, đầu tôi lại ong ong khó chịu. Tôi nhớ bữa đầu tiên thằng Lucifer nhìn thấy Sherry bên này hàng rào, nó lính quýnh sủa ẳng lên. Nàng Sherry láu ta láu táu, sủa đáp lại.  Thế rồi lửa gần rơm, tránh sao khỏi. Ngay trưa hôm sau, thằng quỷ thừa lúc ông bà chủ nó đi vắng, nhảy tót qua cái hàng rào sang tới sân nhà bên này. Lúc ấy tôi vừa mới nôn thốc nôn tháo mấy miếng thức ăn trong cái dĩa bà Elizabeth bưng bỏ tận vào trong nhà cho tôi trước khi đi làm. Bà còn dặn tôi: “Ăn cho khoẻ lên nghe, Adonis. Món này tao làm cho ông Jack đãi khách tối nay, lén sớt ra một phần cho mày đó. Bò nấu đậu Hòa Lan, ngon lắm.” Nhưng tôi vừa mới trệu trạo nuốt mấy miếng thịt vào đến cuống họng, thì ói thốc ra. Sherry chờ sẵn bên cạnh tôi tự lúc nào, đôi mắt nàng vục vào dĩa thịt bò, miệng chảy rãi thòm thèm, rồi nhìn tôi dò ý như mọi khi. Mấy hôm nay nàng vẫn chực ăn những gì tôi bỏ mứa. Tất nhiên tôi luôn vui sướng thấy nàng ăn. Chẳng phải ông chủ tôi đã nói yêu là sự mong muốn hiến dâng cả đời mình, có khi đánh đổi cả mạng sống cho người mình yêu đó sao? Huống chi đây chỉ là miếng ăn. Lại là miếng ăn tôi không nuốt nổi. Được tôi cho phép, Sherry loáng cái liếm sạch sành sanh cái đĩa, cả cái đống thức ăn trên thảm tôi vừa mới nôn ra.
Vừa lúc, thằng quỷ ló mặt vào ô cửa. Chắc chắn nó ngửi thấy cái mùi của Sherry trong nhà tôi. Lập tức Sherry lao ra ngoài theo nó. Tôi cũng vùng dậy, lặc lè bước ra theo. Ngay bên hông nhà tôi, thằng quỷ đã chồm tới từ phía sau Sherry. Thấy tôi, nó gầm gừ thách thức. Thằng khốn! Nó không tỏ vẻ ngán gì tôi mặc dù tôi còn to con hơn cả nó. Tôi định lao tới dần cho nó một trận. Nhưng vừa mới giơ hai chân trước lên thì tôi té quỵ xuống. Hốt hoảng, tôi lồm cồm bò dậy, nhưng lại ngã chúi trở lại. Khỏi phải nói, thằng quỷ mặc sức hành động. Nàng Sherry, như ông chủ tôi từng giải thích, trúng những ngày đang “động đực”, cứ ngù ngờ đứng yên.
Tôi nằm mẹp đó, trên cỏ, bất lực, đau đớn. Thực sự lúc ấy tôi không thấy ghen (tôi nhớ ông chủ tôi thường lên án thói ghen tuông trong tình yêu), nhưng tôi cảm thấy cay đắng và oán hờn Sherry. Bây giờ tôi mới hiểu những lần ông tôi giận bà Elizabeth. Thử nghĩ coi, tôi và Sherry sống bên nhau hàng ngày, có với nhau bao kỷ niệm vui buồn, chưa nói đến việc tôi lo cho nàng, san sẻ với nàng thức ăn và đồ chơi nữa. Thế vẫn chưa đủ sao? Tại sao nàng vẫn ham hố cái chuyện đó với những thằng khác?
Suy cho cùng Sherry cũng giống bà chủ của nàng. Ông tôi thương bà hết lòng như vậy mà hễ mỗi lần ông đi vắng, bà lại đưa mấy gã đàn ông khác về nhà tình tự. Chỉ khác là bà Elizabeth không bao giờ làm điều đó trước mặt ông. Còn Sherry. Đồ thứ chó cái độc ác, không biết hổ thẹn là gì, mặc dù đã trót dại một lần với thằng khỉ gió nào đó, đẻ ra một bầy năm con chó con “vừa xấu vừa ngu” (ông chủ tôi nói vậy). Khổ thân bà Elizabeth chụp hình lũ chó đăng trên mạng, tưởng đâu kiếm được chút tiền. Cuối cùng phải quảng cáo cho không, vì hầu hết giống chó lai người đời không ưa chuộng. Nếu lần này Sherry lại nhỡ nhàng ra với thằng becgie này thì thật tội cho bà Elizabeth, lại gánh thêm một thảm họa.
Có lúc tôi lẩn thẩn nghĩ: nếu tôi gặp Sherry mấy năm về trước, thời tôi còn trẻ, sung sức, được hâm mộ, và chưa bị thiến, không biết bà Elizabeth và ông chủ tôi có tán thành việc Sherry có con với tôi không. Tôi thuộc giống chó vàng Labrador, nàng là Setter Ái Nhĩ Lan. Tôi đẹp, tài năng, và thông minh, nàng thì hơi đần nhưng có sắc. Con chúng tôi biết đâu sẽ thừa hưởng bộ não của tôi và bộ chân dài của nàng (giúp chúng chạy còn nhanh hơn nữa). Như vậy sẽ càng tốt hơn. Sao ông chủ tôi lại nói với bà Elizabeth rằng, lý tưởng nhất là Sherry giao phối với một con chó cùng nòi Setter? Tại sao chó không được khuyến khích phối hợp với các giống khác, trong khi với con người điều này lại dường như không thành vấn đề? (Thì như ông chủ tôi, ông Jack, rồi cả mấy ông khác mà ông tôi gọi là “Lucifer”, chẳng phải tất cả họ cũng vương víu với bà Elizabeth khác nòi đó sao?)
Nhưng nghĩ vớ nghĩ vẩn vậy thôi chứ tôi hiểu phận mình giờ đây chỉ là một con chó già bệnh hoạn sống lất lây được ngày nào biết ngày ấy. Từ ngày ông chủ tôi mất, bà Elizabeth đưa tôi đi bác sĩ phải đến chục lần rồi. Thử máu, thử nước tiểu, chụp X-quang, đo điện tâm đồ, đủ thứ xét nghiệm. Người ta tìm ra lắm thứ kỳ cục xảy ra trong người tôi. Nào là viêm khớp, thoái hóa xương, tiểu đường, nào là mấy khối u trong gan và trong bao tử, nào là tim lớn. Rồi những gì gì nữa. Ông bác sĩ còn nói ổng thấy trong tâm thất trái của tôi có giun nữa. (Thế quái nào mà những con giun xấu xí lại chui vào được trong tim tôi! Thật không tưởng tượng nổi). Ổng còn nói nướu răng tôi bị nhiễm trùng nặng. Có lẽ tại vậy nên hai hàm răng trên dưới của tôi lung lay gần hết. “Chó cũng như người vậy thôi. Những chứng bệnh thông thường của tuổi già.” Ông bác sĩ nói với bà Elizabeth trong lúc tiêm cái nước gì đó vào đùi tôi với một mũi kim dài phát khiếp.
Tôi thấy đi bác sĩ cũng chẳng tích sự gì, vì mỗi ngày tôi càng tệ đi. Tôi nhớ tôi nằm xuội luôn trong nhà sau cái lần chạm trán với Lucifer. Thằng khốn kiếp thì ăn quen quay lại. Bốn ngày liên tiếp. Tôi nằm bên trong nhưng biết hết cái gì đang diễn ra bên ngoài. Tai tôi tuy nghễnh ngảng không còn nghe được nhiều, nhưng mũi thì vẫn tốt lắm. Tôi ngửi chính xác cái chuyện hai đứa nó đang làm. Tôi cầu sao bà Elizabeth trở về bắt gặp chúng nó tại trận. Nỗi đau và nỗi giận của tôi bấy giờ không thể nào diễn đạt được.
Tôi đau lắm, vừa giận vừa thương nàng Sherry khù khờ dại dột. Thảo nào ông chủ tôi thường nói sau lưng bà Elizabeth rằng theo như kết quả nghiên cứu của con người thì Irish Setters thuộc nòi chậm trí tuệ. Thật vậy, Sherry không thể đoán biết được rằng thằng becgie này nếu có dịp thể nào cũng léng téng với con chó xù Poodle nhà dãy phố bên kia. Con Poodle đó chưa đẻ con, đầy sức lực, và nổi tiếng lẳng lơ. Mỗi lần nó xuất hiện ở công viên là chủ nó phải kè kè canh chừng lũ chó đực. Nàng Sherry thơ ngây của tôi có biết đâu đối với thằng becgie, nàng chẳng là gì cả, chẳng qua chỉ thuận tiện cho nó lợi dụng thôi.
Thằng becgie hèn hạ! Đời tôi chưa bao giờ phải lấm lét trèo qua hàng rào làm cái chuyện đó. Không phải khoác lác, nhưng sự thật tôi không thể nhớ hết gương mặt những con chó cái đã dâng hiến cho tôi. Chỉ nhớ là nhiều vô kể. Những nàng chó mỹ miều với bộ lông vàng ánh cao sang cùng loài Labrador với tôi . Chủ các nàng phải thảo luận công việc và giá cả với chủ tôi, rồi sắp xếp ngày đón tôi tới nhà. Thường thì tôi được yêu cầu ở lại trong nhà họ mấy ngày liền để làm phận sự. Tôi nhớ những ngày ấy được bồi dưỡng thịt bò bít-tết thỏa thuê, không phải ăn mấy mẩu lương khô nhạt thếch thông thường của chó. Sau đó người ta trả tiền cho chủ tôi. Người ta chuộng tôi vì cái giống “Golden Lab” đã đành, nhưng còn vì tên tuổi tôi nũa.  Ba năm liền đoạt huy chương vàng trong các cuộc thi tài năng chó toàn quốc. “Mày chắc phải có tới hơn một trăm đứa con rồi!” Ông chủ tôi có lần bảo. Tôi chưa từng phải theo đuổi qụy lụy ai, cho đến khi Sherry bước vào đời tôi. Ôi số phận! Nàng làm tôi khổ tâm nhọc trí biết bao. Bây giờ tôi mới thấu hiểu những gì ông chủ tôi đã trải qua suốt những tháng ngày theo đuổi bà Elizabeth.
Cũng an ủi cho tôi là sau cái đợt đó, Sherry không thiết tha với thằng quỷ nữa. Tôi biết đích xác nhờ cái hôm tôi ráng bước thấp bước cao lần ra ngoài sân hong nắng. Sherry thơ thẩn gần bên. Thằng bẹcgie bất ngờ phóng sang, lại ăn quen chồm lên người nàng từ phía sau. Nhưng Sherry ngồi thụp ngay xuống. Nhanh đến không ngờ. Phải công nhận tôi thấy sướng tê người. Thằng Lucifer không làm ăn được gì. Nó hậm hực vờn tới vờn lui hít hít ngửi ngửi chung quanh nàng. Nàng vẫn ngồi im, mắt hững hờ nhìn vào khoảng không trước mặt.
Khoảnh khắc này Sherry đang nằm thư giãn bên tôi. Tôi biết nãy giờ nàng cũng ngửi thấy mùi gã bẹcgie hàng xóm mới tuần trước là tình nhân của nàng. Mũi nàng thính lắm, không kém gì tôi. Nhưng sự tán tỉnh của thằng Lucifer lúc này không nghĩa lý gì. Vì hôm nay, không đúng vào thời kỳ nàng “động đực”.
Bất chợt tôi nghe thôn thốn bên hông trái, rồi tới bên phải. Lại cái đau quặn khó chịu thường xuyên trỗi lên, hành hạ tôi suốt thời gian qua, làm tôi không đi lại được. Tôi thử trở mình nhưng không nổi. Tôi mở mắt ra, khò khè thở. Sherry khẽ động đậy rồi lại nằm im. Tôi nhắm mắt lại.
Ôi, mọi sự thay đổi nhanh chóng thật. Không hiểu sao chừng hai năm đổ lại đây, cơ thể tôi có gì khác lạ, cứ yếu dần yếu dần đi. Bắt đầu là cái ngày cuối cùng đi săn vịt hoang với ông chủ tôi vào mùa thu năm đó. Tôi nhớ sáng ấy như thường lệ, chúng tôi thức dậy sớm, lái xe đến tận cái đầm nước lớn giáp tỉnh Saskatchewan, nơi ông tôi thuở nhỏ cũng từng theo bố đi săn. Ngan ngát xung quanh là những cánh đồng lúa mì sau mùa thu hoạch chỉ còn trơ gốc rạ. Lúc ông chủ tôi cắm những con vịt giả xuống nước để nhử mồi, tôi đã thấy mệt mỏi, không hứng thú như mọi lần. Rồi chỉ chừng hơn dăm phút nấp sau mấy bụi cây liễu rậm rạp ven đầm, bụng tôi bắt đầu ớn lạnh và râm ran đau. “Ssss! Adonis. Mày làm gì vậy?” Ông chủ tôi la khi nghe tôi rên ư ử. Thế là tôi ráng nằm im. Tôi vẫn còn nhớ lúc đàn vịt ăn đêm bay trở về trời đã phảng phất nắng. Nhanh như cắt, chúng tôi chồm ra khỏi chỗ nấp. Liền đó hai phát súng thiện nghệ của ông chủ tôi, cùng với âm thanh xao xác của những cánh chim thảng thốt bay vút trên không trung. Một con vịt trống chao cánh rồi rơi xuống. Tôi lao xuống dòng nước giá ngắt mênh mang, bơi về phía con vịt trời bị trúng thương. Mới đến giữa dòng thì bủn rủn cả bốn chân, nước lạnh  như dao cắt vào da thịt tôi. Tôi cứ nhìn cái đầu xanh màu cỏ và cái mỏ vàng sáng rỡ của nó còn đang cựa quậy trên mặt nước. Mắt tôi nhòa đi. Đột nhiên tôi thấy lạnh toát. Bộ lông dầy ấm áp dường như không bảo vệ tôi khỏi cái lạnh của nước như thường lệ. Nhưng tôi quyết không chịu thua. Đến lúc bơi tới chỗ con vịt trúng đạn thì toàn thân tôi tê cóng. Con vịt giãy giụa, hai lần rớt khỏi miệng tôi. Tôi ráng hết sức tha nó vào được đến bờ thì ngã gục. Ðó là lần đi săn cuối cùng của chúng tôi.
Nói cho đúng từ hôm ra riêng được tuần nay tôi thấy thoải mái hơn. Khỏi va chạm với ông Jack và Andy, cậu con trai của bà Elizabeth. Khi tôi chưa dọn ra, ông Jack không ngớt phàn nàn rằng từ lúc về ở với bà Elizabeth, ông bị hắt hơi, ngứa mắt, và da mẩn đỏ lên vì dị ứng với mùi nước đái của tôi.  Thực tình thì chỉ có vài lần mệt quá không lần ra ngoài được nên tôi đái luôn trong nhà thôi. Hơn nữa, tôi chưa từng nghe nước đái chó lại gây dị ứng cho con người. Rõ ràng ông Jack ghét tôi nên đổ thừa tầm bậy. Tôi biết tôi luôn như cái gai trong mắt ông ta.
Từ hôm ông ta dọn đến nhà bà Elizabeth, tôi bắt gặp ba lần ông đưa người đàn bà tóc vàng có bộ ngực to kềnh đó về nhà khi bà Elizabeth đi trình diễn nhạc cuối tuần. Tôi còn nghe lóm được cuộc đàm thoại của hai người. Ông Jack hứa hẹn chỉ ở với bà Elizabeth một thời gian ngắn thôi, rồi sẽ tìm cách ly dị để chia tài sản và làm đám cưới với người đàn bà sexy nhưng không trí não này. Thì ra ông Jack cưới bà Elizabeth chỉ để nhằm vào cái gia tài ông chủ tôi để lại cho bà thôi. Tôi cảm thấy thương hại ông tôi, thương hại cả bà Elizabeth. Thế là khi cái bà tóc vàng có bộ ngực to kềnh trở lại lần kế đó, tôi bất thần nhào tới dúi mõm vào bên trong cái váy ngắn của bà ta làm bà ta rú lên như chết đến nơi. Ông Jack căm tôi lắm, tôi biết. Nhưng tôi ước gì có thể thông báo cho ông ta rõ rằng dựa vào cách điều tra vừa rồi của tôi, tôi quả quyết trăm phần trăm rằng ông ta không phải là người đàn ông thứ nhất của bà ta hôm ấy.
Andy, có Trời chứng giám, còn tệ nữa. Mỗi lần đi ngang chân cầu thang chỗ tôi nằm, cậu ta lại đá vào hông tôi một cái đau điếng: “Mày hôi quá, con chó già. Chừng nào mới chịu đi theo ông chủ mày hả?” Và hễ thấy Sherry lân la gần tôi là cậu ta la toáng lên, kéo nàng đi chỗ khác: “Sherry, mày không sợ lây bệnh sao?”
Ông Jack bảo để chấm dứt tình trạng chịu đựng đau đớn hiện nay của tôi “chỉ cần một mũi thuốc, rất nhẹ nhàng,” ông nói. Bà Elizabeth không chịu, bảo bà đi chùa nên không sát sanh. Rồi tôi nghe ông Jack nói sống đâu theo đó. Ở các nước phương Tây, đây là hành động nhân đạo. Ông còn nói tôi may mắn sống ở Canada, chứ nếu ở các nước như Việt Nam, Trung Hoa hay Hàn Quốc thì máu huyết tôi đã thành những dĩa tiết canh, xương thịt tôi đã thành những tô nhựa mận cho mấy ông nhậu từ lâu rồi. Bà Elizabeth bảo bà không thể tưởng tượng tới việc tiêm thuốc cho tôi chết. “Nghe nhẫn tâm, kinh khủng thế nào ấy!” Bà bảo để nán thêm thời gian nữa xem sao. Biết đâu tôi khỏe trở lại. Phép mầu đôi khi xảy ra. Bà nhắc đến di chúc của ông chủ tôi: Bên cạnh việc thừa hưởng căn nhà và số tiền gần nửa triệu trong tài khoản của ông để lại, bà phải có trách nhiệm nuôi nấng tôi chu đáo đến chết.“Cũng tội,” bà chép miệng, “Lão thương Adonis như con trai lão vậy. Có lần, một người bạn đùa, hỏi mua nó với giá một trăm ngàn đô-la, bị lão mắng cho. Lão nói cả thế gian này lão cũng không đánh đổi”. “Đủ rồi!” ông Jack cắt ngang. “Không cần thiết phải nói đi nói lại về cái lão giáo sư đầu óc bệnh hoạn bẩn thỉu đó”. “Nhưng không có lão thì mình không có được ngày hôm nay”. Bà Elizabeth cao giọng lên. Hai người lại cãi nhau, y như mọi lần khi bà nhắc đến tên ông chủ tôi.  Tôi biết ông Jack vẫn ghen với ông chủ tôi dù ông tôi đã chết. Cuối cùng ông Jack quyết định cất một chỗ ở cho tôi bên ngoài, để “đảm bảo vệ sinh và sức khỏe cho mọi người trong nhà, kể cả Sherry”. Khi người thợ tới đo đạc tính toán gỗ lạt, ông Jack bảo chỉ cần dựng một căn chòi sơ sài tạm bợ, vì tôi không kéo dài được lâu nữa.
Thình lình tấm vải che cửa vén mở. Gương mặt có mùi thơm hăng hắc quen thuộc và đôi mắt của bà Elizabeth xuất hiện.
“Trời, thối quá!” Bà bịt mũi, ré lên. “Ồ, Sherry! Cả mày cũng chui vào đây sao! Đi ra! Còn mày, Adonis, hôm nay mày có khá lên chút nào không?” Bà lôi dĩa thức ăn và tô nước ra, một tay vẫn bụm chặt lấy mũi miệng. “Chắc con Sherry lại vào ăn giúp cho mày phải không? Thật tội mày quá con chó già!” Bà vỗ vỗ lên đầu tôi, rồi lại kêu rú lên: “Ôi trời, mồm miệng chảy nước chảy dải đầy thế này, kinh quá. Mắt thì lở loét hết ra rồi. Ôi…!”
Bà hấp tấp đi gọi ông Jack. Sherry chồm dậy, chui ra ngoài chạy theo bà.
“Thế này thì nguy hiểm lắm rồi,” tôi nghe giọng ông Jack bên ngoài. Tiếng hai người nói qua nói lại. Mắt tôi lòa nhòa dán vào ô cửa phủ miếng vải bông. Lùng bùng bên tai tôi cái giọng ấm áp của bà Elizabeth.
“Không biết chắc Adonis bị ung thư hay không. Bác sĩ nói rằng ông ta chỉ nghĩ vậy thôi. Ông bảo muốn có kết quả chắc chắn phải cho nó đi chụp MRI.”
“Lại tốn tiền vô ích,” tiếng ông Jack. “Bác sĩ nói ung thư hay không thì nó cũng kéo dài tối đa được tuần nữa thôi.”
Bà Elizabeth nói gì đó. Rồi giọng ông Jack. “Phẫu thuật cũng không cứu được.”
“Thật tội Adonis.” Tiếng bà Elizabeth nghẹn ngào. “Ông chủ nó vừa mới mất, giờ lại tới lượt nó.”
Ông Jack nói rằng ông ta có một người bạn là bác sĩ thú y ở phố bên cạnh. Ông có thể ghé đó bữa nay lấy thuốc về tiêm cho tôi. “Anh làm được. Khỏi phải mất tiền cho bác sĩ đến nhà.”
Bà Elizabeth nói gì đó tôi nghe tiếng được tiếng không. Lại tiếng ông Jack rất rõ: “Em đừng quá xúc động. Mình giải quyết sớm ngày nào bớt khổ cho nó ngày ấy. Mà nó đã gần mười tuổi. Thọ lắm rồi.”
Sau đó ông Jack bảo bà chờ ông điện thoại cho ông bác sĩ, xong hai người sẽ đi mua thực phẩm, rồi trên đường về sẽ ghé lấy thuốc cho tôi.
Không! Tôi bật kêu nghẹn ngào trong cổ họng. Làm ơn mở lòng nhân từ với tôi! Tôi chưa sẵn sàng. Chưa mà. Nước mắt tôi ứa ra. Sherry! Tôi muốn gọi Sherry, nhưng cổ họng tôi bị nghẽn lại. Tôi thấy khó thở hơn. Từng khớp xương trong người như đứt rời ra từng đoạn. Hai bên hông vẫn cứ quằn quặn đau. Ôi, tôi không ráng nổi nữa rồi. Tôi bỏ cuộc rồi. Thế là hết. Adonis – cái tên tôi giờ đây không còn nghĩa lý gì nữa. Cái tên tượng trưng cho sắc đẹp, sức mạnh, và tuổi trẻ trong thần thoại Hy Lạp mà ông chủ tôi vẫn thường tự hào giải thích với mọi người. Số phận tôi đã được định đoạt rồi.
Đó là ý nghĩ cuối cùng trong đầu tôi. Rồi tôi đau đớn lịm đi.

*****

Tôi không biết bố. Có con chó nào biết bố nó? Tôi chỉ nhớ lúc nhỏ sống với mẹ và năm anh chị em. Lúc mới được chừng sáu tuần tuổi, tôi bị bán cho một cặp vợ chồng công chức về hưu sống ở một nông trại khỉ ho cò gáy. Ông bà chủ này rất tử tế với tôi, nhưng cuộc sống ở đó không có gì hấp dẫn. Nhà này cách nhà kia xa lắc. Chỉ có dịp lễ Tết gì đó mới thấy có người đến chơi mang theo chó nữa. Những con chó đó thật là kỳ quặc, lúc đầu chúng nó ăn hiếp tôi bị tôi cho lại mấy cú đòn thích đáng. Từ đó chúng kiềng mặt tôi ra, không chơi với tôi nữa. Thế là lúc nào tôi cũng lủi thủi mỗi mình. Ở với ông bà già đó được đâu ba năm thì hai người chết trong một tai nạn máy bay. Cô con gái duy nhất của họ không thích chó lắm, lại đang sống với hai con mèo, nên đăng báo bán tôi. Giá một ngàn đô-la. Ông chủ tôi xuất hiện ngay ngày hôm sau. Mới nhìn thấy tôi là ông tôi ưng ngay. Không mặc cả, ông trả trọn số tiền và mang tôi về. Thế là tôi bắt đầu cuộc sống nơi phố thị.
Ông chủ tôi gần 70 tuổi, mới ly dị vợ, không có con, sống một mình trong căn nhà tiện nghi. Tôi được xếp ở một phòng riêng trên lầu đàng hoàng, sát phòng ông. Có giường nệm, chăn gối hẳn hoi. Thức ăn và đồ chơi thì ê hề. Đêm đầu tiên, khuya lắm, tôi cảm thấy khó ngủ ở một chỗ xa hoa, nên mon men sang phòng ông. Ông vẫn còn đang gõ trên máy vi tính. Ông ngạc nhiên khi thấy tôi. Tôi chồm lên liếm khắp mặt ông, rồi lặng lẽ nằm mọp xuống cạnh chân ông. Trông ông có vẻ hài lòng. Chờ khi ông lên giường ngủ, tôi nhảy phóc lên theo. Ông bật cười và để tôi nằm với ông. Từ đó đi đâu ông cũng dắt tôi theo. Ông không thích cái tên Bill chủ trước đặt cho tôi. “Nghe xoàng lắm!” ông nói. Ông gọi tôi là Adonis, sau khi giải thích dài dòng với tôi về lịch sử và ý nghĩa của cái tên đó. Mỗi lần dắt tôi đi dạo trên ngọn đồi gần nhà, ông thường cất tiếng gọi cái tên mới của tôi, gây chú ý cho người xung quanh. Nhiều người tò mò bắt chuyện với chủ tôi vì cái tên đặc biệt ấy. Ông chủ tôi rất mê nói chuyện.
Mọi người gọi ông tôi là giáo sư. Ông đã về hưu, không đi làm ở đâu. Suốt ngày ngồi bên máy vi tính, hết đọc, lại gõ. Tôi nghe ông đang làm một quyển tự điển nhằm khôi phục một thứ tiếng nói cổ xưa của những bộ lạc người da đỏ ở miền tây nước Canada. Tôi thường hay nằm quẩn quanh dưới chân ông, lúc nào chán lại đi ra ngoài sân hong nắng. Ông chủ tôi làm việc chăm chỉ lắm, nhưng lâu lâu cũng dừng lại trò chuyện với tôi. “Tiếc là mày không có ngón tay như người. Nếu không tao cũng dạy mày đánh máy”, ông bảo.
Nhưng tôi nghĩ tôi không cần biết đánh máy như người, vì tôi có thừa những tài năng mà con người không có. Tôi cũng biết là tôi có thể dùng tài năng của tôi làm con người thán phục. Mấy trò như là chờ cho chủ ném trái banh hoặc một vật gì đó thật xa rồi phóng đi bắt lấy mang về lại cho chủ là quá thường tình không đáng đề cập ở đây. Tôi có nhiều trò khác, độc đáo hơn. Một lần ông chủ và tôi đi dạo ngoài công viên. Đến chỗ cái cầu tuột cho trẻ em, tôi chạy đến trèo lên mấy bậc thang, rồi trượt xuống tấm ván giống như đám trẻ con hay làm. Ai nấy trố mắt kinh ngạc. Chủ tôi hết sức phấn khích. Ông bảo tôi diễn lại. Người ta bu tới xem đông hơn. Con nít khoái chí vỗ tay. Người lớn thì thèm muốn tôi ra mặt.
“Adonis là tặng vật của thượng đế,” ông chủ tôi hay nói với bạn bè. “Quả tình sống với con chó khôn dễ chịu hơn vạn lần sống với con đàn bà vừa dốt vừa tham.”
Ðó là ông ám chỉ bà Arlene, người vợ mới chia tay. Ông kể rằng ngày xưa bà Arlene lấy ông chỉ là để bóc lột trí não và túi tiền của ông. Hai người gặp nhau trong một hội nghị quốc tế về ngôn ngữ học tại thành phố Montreal. Lúc ấy bà là một sinh viên nước Mỹ mới ra trường, trẻ hơn ông đến hai mươi tuổi. Sau bài thuyết trình của ông, bà Arlene tìm gặp ông và ca ngợi rối rít. Bà ngủ với ông ngay đêm hôm đó. Rồi ba tháng sau, bà quyết định dọn sang Canada làm vợ ông. Chính ông là người viết luận án tiến sĩ cho bà. Ông bảo không có ông thì chẳng bao giờ bà có được cái danh hiệu mà bà luôn luôn thèm khát và tự hào biết bao khi nhận được. Nhưng những công việc cần đến học vị tiến sĩ lại không tới lượt bà. Sau bao năm chuyển hết nghề này sang nghề nọ, cuối cùng chỉ có mỗi công việc bà trụ được là bán quần áo lót thời trang cho phụ nữ. “Đó mới phù hợp với trí tuệ bà ta”, ông nói.
Khách đến nhà ông chủ tôi ai cũng được nghe những câu chuyện về cuộc đời ông. Đến tôi nghe ông kể tới kể lui nhiều lần với người ta đâm ra thuộc lòng mọi chi tiết. Chủ tôi sinh ra tại một nông trại nghèo thuộc tỉnh Saskatchewan. Cơ thể ông được làm ra bởi những bụi cây dại mọc lan khắp vệ đường và đồng cỏ quê ông, cứng cáp và đầy gai nhọn, giông gió bão tuyết phải chịu thua. Thời khắc ông ra đời, người ta còn cấy vào trái tim ông con rắn chuông bé có nọc độc. Khi nói đến chi tiết này với bà Elizabeth, ông cười, bảo ai mà đối xử không phải với trái tim ông hãy coi chừng. Tuổi thơ của ông ở vùng đất khắc nghiệt ấy có thể tóm tắt thế này. Sáu tuổi đã phải hót dọn phân trâu bò, heo, ngựa. Tám tuổi vắt sữa bò. Chín tuổi phải điều khiển ngựa làm những công việc ngoài đồng. Nhà không điện, không nước máy, không hệ thống sưởi. Mùa đông gió thổi tuyết ngập qua khe cửa vào đóng băng trong nhà. Trường có mỗi một phòng học cho ba chục học sinh từ lớp vỡ lòng đến lớp mười hai. Ông học rất giỏi. Lên đến lớp hai thầy giáo bắt phụ dạy trẻ lớp một. Lên lớp ba thầy lại bắt dạy trẻ lớp hai. Cứ thế. Từ lúc biết chữ ông bắt đầu mê đọc sách. Ngược lại, bố ông rất ghét sách. “Mài sách ra mà ăn”, bố ông thường dè bĩu. Hễ bắt được ông đọc sách là bố ông xé nát quyển sách ra. Cũng may mẹ ông chiều con trai. Mỗi lần có ai trên thành phố ghé ngang nhà mua khoai tây, bà lại lén hỏi xin sách cho ông chủ tôi. Có được quyển sách nào là ông thường phải xé ra từng trang giấu mỗi trang mỗi nơi để đọc. Tám tuổi, ông thuộc lòng vở kịch “Hăm-let” và “Giấc mộng đêm hè” của Shakespears. Mười tuổi, ông kể vanh vách từ đầu đến đuôi tiểu thuyết “Thằng Gù Nhà thờ Đức Bà” của Victor Hugo.
Hết trung học là ông rời vùng quê khốn khó ấy với một túi xách đựng mấy quyển sách, ổ bánh mì, và hai bộ quần áo. Ông đặt chân đến nước Pháp, lang thang khắp các đường phố ở Paris kiếm sống, và học tiếng Pháp. Chỉ sau sáu tháng, ông vào được đại học Sorbone. Những giáo sư người Pháp phải công nhận giọng tiếng Pháp của ông hoàn hảo đến mức “nghe có thể nhầm với người Paris”. Ông dạy ở đại học Sorbone môn văn học thời trung cổ được ba năm. Sau đó ông đặt chân đến đất Mỹ, lấy bằng vật lý không gian ở đại học Harvard. Rồi trở về giảng dạy văn học Pháp ở một trường đại học Canada cho đến khi về hưu. Thật ra ông tôi chưa có ý định về hưu, nhưng cái trường đại học ấy muốn gạt ông ra vì họ phải trả ông nhiều tiền quá. Họ vin vào cái vụ một sinh viên nữ tường trình rằng ông chủ tôi có hành vi gợi ý tình dục với cô ta. Thế là dù không có chứng cớ rõ ràng, họ ép ông về hưu. Chẳng qua họ ganh tị với trí tuệ của ông, ông chủ tôi giải thích như vậy.
Chính trị, toán học, vật lý, văn chương, ngôn ngữ, và bất kỳ lãnh vực nào ông chủ tôi chú tâm vào, ông đều thành thạo. Chỉ riêng về ngôn ngữ, ông nói đọc viết thông thạo đến mười một thứ tiếng. Trong các cuộc đàm thoại với người khác, ông tôi bao giờ cũng chiếm diễn đàn. Ông có thể nói liên tục cả hai, ba tiếng đồng hồ không mệt mỏi. Những người khác chỉ ngồi lắng nghe, có khi ngáp không buồn che miệng. Nhưng ông chủ tôi không bao giờ nhận ra điều đó. Tôi nhận thấy con người có những hành vi lạ thật. Đây chỉ là một ví dụ: Có người đến nhờ vả ông tôi việc này việc nọ, sử dụng rất nhiều kiến thức và thời gian của ông, nhưng sau lại quay ra nói xấu sau lưng ông. Trời biết tại sao. Ai đời họ để ý cả đến những chuyện vặt, bảo miệng ông chủ tôi hôi, nói bắn cả nước bọt vào mặt người khác. Có kẻ còn nói những lời như là: “Lão chỉ ba hoa về quá khứ vì hiện tại không có gì để khoe.” Thật tình tôi không hiểu sâu xa lời nhận xét này, nhưng tôi nhớ ông chủ tôi bảo người đời có thói ganh tị nên hay ác miệng khi nói về người khác. Vì thế, mặc ai nói gì thì nói, tôi luôn một mực kính nể và yêu thương ông tôi.
Phải nói tôi là một con chó khá may mắn. Ông chủ tôi là một người tốt nhất trên trần đời. Đi săn được con vịt là ông mời bạn bè đến uống rượu, không bao giờ quên dành phần cái đầu và hai cái cẳng cho tôi. Chuyện gì ông cũng tâm sự với tôi, xem tôi như một con người thật sự. “Có lẽ kiếp sau mày sẽ được làm người, còn tao biết đâu lại trở thành chó. Nhưng có lẽ làm chó dễ dàng hơn”, ông nói và thở dài. Tôi nghĩ nếu vậy thì lúc đó tôi cũng sẽ lái xe chở ông chủ tôi đi đây đó và đối xử với ông cũng tốt như ông đối với tôi bây giờ. Tôi hình dung mình cũng đọc sách, gõ máy vi tính, và biết làm được bao nhiêu điều mà loài chó chúng tôi không thể.
Một ngày nọ, cuộc sống đang vui vầy của tôi bị biến động. Tôi bị sốt cao. Càng ngày càng nặng. Ông chủ đưa tôi đi bác sĩ. Ông bác sĩ quyết định cắt hai tinh hoàn của tôi. “Lạy Chúa! Chắc mày lây từ con đĩ đó rồi”. Ông tôi rên rỉ, ám chỉ Jennifer, nàng chó tôi mới đến nhà làm phận sự tuần lễ trước đó. Cũng trong năm ấy ông chủ tôi không đăng ký cho tôi tham dự cuộc thi tài năng chó toàn quốc nữa. “Phải biết dừng trong chiến thắng”, ông nói. Bấy giờ tôi đã bảy tuổi. Ông chủ tôi lo tôi sẽ không còn sống bên ông bao lâu nữa. Ông nhắc đến một cuốn phim trong đó Thượng Đế công nhận Ngài mắc hai lỗi trong công cuộc sáng tạo thế gian: một là cái hạt của trái bơ quá lớn, hai là tuổi đời của chó quá ngắn ngủi. “Ước gì mày có thể sống lâu như loài người chúng tao”, ông chắc lưỡi. “Thật không công bằng. Ðến như lũ mèo vô dụng còn có tuổi thọ gấp đôi mày.”
Giữa những ngày ấy chúng tôi gặp gia đình bà Elizabeth trong một lần đi dạo trên đồi. Gia đình bà bao gồm bà, con trai Andy và Sherry, con chó bà mới xin về được mấy tháng. “Cuộc gặp gỡ định mệnh”, sau này ông chủ tôi hay nhắc. Bà  Elizabeth là nhạc sĩ kiêm ca sĩ, người nhập cư gốc Việt Nam. Tên bà thực ra là Kim, nhưng ông tôi bảo bà đẹp quý phái như nữ hoàng, nên gọi luôn bà cái tên của nữ hoàng như vậy. Bà Elizabeth đến Canada được hơn chục năm. Lấy chồng cũng người Việt, có đứa con trai được bảy tuổi thì hai vợ chồng chia tay. Bà nói lý do của sự đổ vỡ ấy là do ông chồng cờ bạc mất luôn cả căn nhà. Hiện bà, cậu con trai, và Sherry sống nhờ vào tiền trợ cấp xã hội hàng tháng trong một căn hộ chung cư dành cho người thu nhập thấp.
Ông chủ tôi mê bà ngay phút đầu. Nhìn bà trẻ lắm, có lẽ mới ngoài ba mươi. Người nhỏ. Tóc đen. Ðôi mắt quyến rũ một cách huyền bí. Tôi nhớ hôm đầu đến nhà ông chủ tôi, bà dắt Sherry theo. Andy thì còn đang ở trường. Ðó là lần đầu tiên tôi kết bạn với một nàng chó không cùng nòi với tôi. Hai con chó chúng tôi trò chuyện ngoài sân cỏ sau nhà. Còn hai con người thì trong phòng khách. Tôi thấy hai người có vẻ tâm đắc với nhau lắm. Họ vừa ăn món chả giò Việt Nam do bà Elizabeth làm ở nhà mang tới, vừa nói chuyện đủ thứ. Về văn hóa. Về ngôn ngữ. Về âm nhạc. Về cả chiến tranh. Những chuyện của con người mà loài chó tôi không hiểu. Thỉnh thoảng tôi chạy vào nằm dưới chân ông chủ tôi, nghe ngóng một lúc. Ông chủ tôi kể cả chuyện tôi cho bà nghe. Điều đó hình như làm cho bà nể tôi hơn. Bà đưa tay rờ tôi, bắt chuyện làm quen. Tôi cũng thích những ngón tay ve vuốt của bà. Mỗi tội tôi gần chết ngạt vì cái hương vị nồng nặc của xà bông hay nước hoa gì đó toát ra từ người bà. Tôi chúa ghét cái mùi này. Không hiểu sao con người, nhất là phụ nữ hay dùng. Vậy mà ông chủ của tôi sau này cũng bắt chước. Mỗi khi có hẹn với bà, ông lại tắm rửa rất lâu rồi xịt cái nước đó lên khắp người.  Thú thực hôm ấy tôi phải chạy ra ngoài với Sherry mấy lần, vì cái mùi kỳ cục ấy làm tôi ngứa ran trong cổ và ho sặc sụa. Chiều hôm đó sau khi bà Elizabeth và Sherry về rồi, ông chủ tôi huýt sáo, mở nhạc, rồi nhấc hai chân trước tôi lên, kéo tôi xềnh xệch ra giữa nhà, bắt tôi bước qua bước lại bước tới bước lui với ông theo điệu nhạc khiến tôi chóng hết cả mặt. “Adonis! Mày thấy nàng Elizabeth thế nào? Thật đáng yêu phải không? Vừa xinh đẹp, vừa có trí tuệ,” ông chủ tôi nói.
Ông không nhắc một lời đến Sherry, cô nàng chó của bà Elizabeth cũng đang làm tim tôi khấp khởi.
Từ đó cuộc đời chúng tôi bước sang một giai đoạn mới. Chúng tôi trở nên bận rộn hơn bao giờ. Hầu hết thời gian là dành cho gia đình bà Elizabeth. Không còn cái cảnh ông chủ tôi suốt ngày ngồi đọc và gõ trên máy vi tính nữa. (Quyển tự điển ông đang viết dở dang cho người thổ dân trong các bộ lạc đã không bao giờ hoàn thành). Suốt năm ấy, ông chủ tôi đưa tôi đến nhà bà hầu như mỗi ngày, đỡ đần mọi chuyện trong nhà để bà có thời gian đi tìm một công việc có thu nhập ổn định hơn. Ông tôi còn gánh hết mọi chi phí lớn nhỏ trong nhà cho bà.  “Cuộc đời thật không công bằng. Nàng xứng đáng một cuộc sống thoải mái thư thả hơn”. Ông nói với tôi không biết bao nhiêu lần. Ngày ngày trong lúc ông tôi bận làm đủ mọi công chuyện cho gia đình bà Elizabeth, tôi và nàng Sherry có dịp tâm tình với nhau. Ban đầu Sherry còn e dè, riết rồi cô nàng mạnh dạn và cởi mở hơn. Bắt chước ông chủ, tôi cũng biết cách bộc lộ tình cảm của mình. Khi thì tha khúc xương giả (từng là món đồ chơi tôi thích nhất) đến cho nàng gặm. Khi thì nhường hẳn cho nàng mấy miếng thịt tươi ông chủ dành cho tôi.  Cái gì tôi cho nàng đều khoái. Nàng bảo hồi nào đến giờ chưa có chàng chó nào tử tế với nàng như vậy. Tôi cho rằng Sherry là con chó cái đẹp nhất trong vùng này. Đẻ một lứa năm đứa rồi mà nhìn vẫn còn rất mặn mà. Tôi say sưa ngắm mỗi khi nàng ngồi hong nắng, thân người thon thả ngả điệu đà về một bên hông. Cặp mắt mở to trông ngơ ngác hiền dịu. Cổ cao. Chân dài. Bộ lông mượt mà, kiêu sa. Ông chủ tôi hay nói rằng giống chó này ngu si. Nhưng ngộ thật, tôi lại thấy thích cái vẻ khờ khờ đần độn của nàng. Tôi hay trổ tài với nàng và cảm thấy vui sướng khi nàng nhìn tôi với cặp mắt thán phục.
Bà Elizabeth bảo bà đến từ Việt Nam, không có kiến thức nhiều về chó. Ông tôi giải thích cho bà biết về thời kỳ “động đực” của một con chó cái, và bảo những ngày đó bà phải nhốt Sherry trong nhà, để tránh sự tấn công của mấy con chó đực trong vùng. Ông chủ tôi và bà Elizabeth hợp ý với nhau về quan niệm không thiến chó. “Con người ác,” bà Elizabeth nói. “Họ tự cho mình cái quyền cướp đi bản năng sinh dục của loài vật.” Ông chủ tôi gật lia lịa, bảo rằng bất đắc dĩ lắm ông mới phải đồng ý để bác sĩ thiến tôi, vì nếu không tôi có thể không qua được cái bệnh hiểm nghèo ấy.
Một lần, Sherry đến ngày “động đực”, ông tôi gọi bà Elizabeth đến quan sát. Tôi lảng vảng quanh Sherry, hít cái mùi toát ra từ cơ thể nàng. Cái mùi đặc biệt từ xa bao nhiêu thước tôi đã ngửi thấy. Sherry đứng yên như pho tượng, sẵn sàng được dâng hiến. Bà Elizabeth bảo: “Em không muốn con Sherry đẻ nữa đâu nhé?” “Đừng lo.” Ông tôi nói: “Con Adonis không làm ăn được gì nữa đâu.” Ông dừng lại, đằng hắng, rồi tiếp: “Nhưng đừng quên là chủ của nó thì khác. Có thể ông ta không cắt nổi cây mù tạc, nhưng vẫn có thể liếm được cái hủ đựng nó.” Ông tôi nói kiểu ví von của người nông dân và cười khùng khục trong lúc bà Elizabeth đỏ mặt lảng sang chuyện khác. Sau này tôi nghe bà rúc rích học lại với ông Jack câu nói ví von của ông chủ tôi. Ông Jack nổi sung lên bảo rằng đầu óc ông tôi thật là dơ dáy, bệnh hoạn, chả trách trường đại học cho ông nghỉ dạy.
Thời gian điềm nhiên trôi. Mùa hè qua. Mùa thu giã từ. Rồi mùa đông tới. Ông chủ tôi nghiễm nhiên trở thành người quản gia tự nguyện cho gia đình bà Elizabeth. Bà đã xin được chân thư ký ở một văn phòng luật sư. Sáng đi chiều về từ thứ hai đến thứ sáu. Cuối tuần lại đi trình diễn với băng nhạc ở các đám cưới, tiệc tùng. Thế là công việc coi sóc con cái nhà cửa của bà Elizabeth trở thành của ông tôi. Tội nghiệp, tôi thương ông đã già mà phải làm vất vả. Nhiều khi tôi ước có thể san sẻ được với ông. Ông có lần nói với bà Elizabeth rằng ngày xưa ở với bà Arlene không bao giờ ông phải mó tay tới việc nhà. Bà Elizabeth mỉm cười. Bà nhón chân lên, hôn vào má ông và nói: “Con người ai cũng phải vác thánh giá ở thời điểm nào đó trong đời họ. Anh cũng vậy, bây giờ anh mới tìm được cây thánh giá.”
Nhiệm vụ hàng ngày của ông chủ tôi bao gồm lo bữa điểm tâm cho cậu con trai bà Elizabeth, chở cậu đi học, rồi lo đi chợ mua thức ăn. Chợ về là ông thu gom quần áo thay ra của bà Elizabeth và cậu con trai đem đi giặt, lau chùi dọn dẹp nhà cửa. Tới giờ lại trở lại trường đón cậu trai bà, đưa cậu đến chỗ học bơi hoặc chơi bóng đá, sau đó chở cậu về, rồi lao vào bếp làm cơm chiều. Có nhiều bữa ông quên canh bếp thế nào mà thức ăn cháy khét lẹt, ông thẩy cho tôi ăn, rồi lại hấp ta hấp tấp nấu món khác. Trông ông lúc nào cũng tất bật, mồ hôi mồ kê tứa ra. Vậy mà ông luôn đảm bảo làm xong mọi thứ trước khi bà Elizabeth về nhà. Bà về đến cửa là cơm nước đã bày sẵn trên bàn. Bà ăn món gì cũng khen ngon, thỉnh thoảng còn tặng cho ông một cái hôn vội vàng trên môi nữa. Bấy nhiêu cũng đủ cho ông chủ tôi hài lòng. Cơm nước xong, ông tôi lại lo rửa chén bát rồi kèm cậu con trai bà làm bài tập.
“Thằng ranh con này đúng là thứ chó đẻ!”Ông chủ tôi thường làu bàu với tôi như vậy. Tất nhiên ông tôi chỉ chửi thề khi không có ai chung quanh nghe thấy. Mà thật. Cậu con trai bà Elizabeth quá quắt lắm, không coi ông chủ tôi ra gì. Cậu ta thường xuyên chống đối không chịu làm bài, còn cãi hỗn với ông tôi nữa, may mà ông tôi kiên nhẫn với cậu vô cùng. Tối tối, lúc cậu con trai đã ngủ, ông chủ tôi và bà Elizabeth thường ngồi bên nhau nói chuyện ngôn ngữ, âm nhạc, và bao nhiêu đề tài khác vượt sự hiểu biết của tôi. Bà thường mặc chiếc áo ngủ kiểu cách và mỏng dính. Tôi bắt gặp mắt ông tôi hay dừng lại thật lâu chỗ vầng ngực của bà. Sau khi trò chuyện xong, thường là rất khuya, bà vào phòng ngủ, nhưng không gài cửa. Ông chủ tôi ít khi về nhà, viện cớ trời tuyết đường trơn. Ông ngủ lại trên cái sô-pha cũ kỹ chật hẹp. Còn tôi nằm cạnh dưới chân ghế.
Rồi một đêm, tôi thấy ông lần mò vào phòng bà. Tôi nghe tiếng hai người rù rì một lúc. Sau đó, giọng ông tôi năn nỉ, và giọng bà cứng cỏi chối từ. Cuối cùng thì ông bước ra, mặc áo khoác, xỏ giầy, ra hiệu cho tôi theo ông ra xe về nhà. Nửa đêm. Tuyết đang xuống nhiều. Tôi biết ông giận. Suốt chặng đường về, ông lái xe trong sự lặng thing căng thẳng. Mải sau ông mới lên tiếng: “Đàn bà quả là đám sinh vật phức tạp, khó hiểu. Chúng chỉ chờn vờn, chọc ghẹo trái tim của đàn ông chúng ta.”
Và y như ông tôi đoán. Hễ ông giãn ra, bà lại nhích tới. Mới hai ngày chúng tôi không đến, bà Elizabeth điện thoại rối lên. Ông tôi lại cuống quít thay quần áo vẫy tôi ra xe. Tình trạng này diễn đi diễn lại.Ông chủ tôi phát mệt và gần như không còn chịu đựng được nữa. Tôi thấy thật tội cho ông tôi lâm vào cảnh ngộ như vậy.
Cho đến một hôm, tôi thấy ông chủ tôi và bà Elizabeth có cuộc nói chuyện hết sức nghiêm trọng. Ðại thể bà cho rằng mọi điều ông làm cho bà xưa nay thật ra đều có ẩn chứa điều kiện, không phải là sự giúp đỡ vô tư, vì bà nhận ra rằng ông trông đợi sự đền đáp từ phía bà. Mặt ông chủ tôi tái đi. Ông phản bác sự kết tội của bà. Tôi nghe ông đề cập đến truyền thống Potlatch của người da đỏ thuở xưa. Người đi săn không bao giờ giữ hết con thú bắn được cho riêng mình, mà luôn đem chia cho cả bộ lạc. Họ cho đó là vinh dự, là niềm tự hào được san sẻ sự may mắn của mình. Mọi người trong cộng đồng đều phóng khoáng trong việc chia bớt của cải của mình cho người có ít hơn. Người nào trở nên nghèo vì đem cho tài sản của mình theo truyền thống Potlatch sau đó sẽ được nhận quà của những người cùng quan điểm như vậy. Sự quan tâm của ông với bà, ông thề rằng, cũng dựa trên tinh thần đó. Không điều kiện kèm theo. Không tính toán vụ lợi. Ông trích dẫn cả đạo lý Bhagavad Gita của người Hin-đu về việc thực hiện trách nhiệm của mình và không nghĩ đến lợi lộc có thể mang lại. Hai người trở đi trở lại vấn đề này nhiều lần sau đó nữa, nhưng cho đến khi ông tôi chết, vẫn không đi đến đâu.
Mãi sau này tôi mới biết bà Elizabeth không hề yêu ông tôi. Nhưng tôi ngạc nhiên là bà luôn xử sự trước mặt ông như thể bà cũng chấp nhận tình cảm của ông, ngoại trừ lâu lâu bà hay làm cao một chút. Những lần ông chủ tôi đi thuyết trình trong các hội nghị ở thành phố khác, ông gởi tôi ở nhà bà Elizabeth, vì thế khám phá được những điều ông chủ tôi không thể tưởng tượng nổi. Có hai người đàn ông thường xuất hiện ở nhà bà. Một là ông Jim, cùng trong băng nhạc với bà, và ông Jack kỹ sư. Hai người này trẻ hơn ông chủ tôi nhiều. Tôi nghe bà Elizabeth nói với ông Jim lúc hai người đang ôm ấp hôn hít nhau trong nhà bếp: “Phải công nhận anh là người tình gây cho em hứng thú nhất. Em mê anh từ buổi đầu chúng ta trên giường với nhau. Nhưng đồng lương ba cọc của anh làm sao đảm bảo cuộc sống cho mẹ con em?” Với ông Jack thì giọng bà thường chát chúa hơn, có lần bà bảo: “Anh dẹp ngay cái trò ghen tuông với lão giáo sư bạn tôi. Tôi đã nói với anh không biết bao lần, lão già rồi, cũng giống như con chó đã bị thiến của lão. Còn làm được cơm cháo gì.” Lần khác bà nói: “Thay vì ghen, lẽ ra anh còn phải cảm ơn lão vì lão đã làm thay những công việc lẽ ra là trách nhiệm của anh.”
Tôi nhớ lần đầu thấy ông Jack vào phòng ngủ của bà, rồi đóng cửa lại, tôi tấm tức không chịu nổi. Tôi dùng đôi chân trước cào vào cánh cửa một cách điên dại cho đến khi bà Elizabeth phải dậy. Bà mở cửa ra, vẫn đang trần truồng. “Trời đất, Adonis,” bà cười ngất, “ôi, con chó già tội nghiệp. Mày ghen hộ cho ông chủ mày hả? Đừng ngớ ngẩn như vậy.” “Đuổi con chó chết tiệt ra ngoài đi!” Ông Jack nhổm đầu khỏi chiếc gối giọng khó chịu. “Đi, đi ra ngoài với Sherry nào”, bà Elizabeth xua tôi, rồi đóng cửa đánh sầm ngay mặt tôi.
Tôi trở ra ngoài sân, cảm thấy buồn rượi và lẻ loi.
Ðến khi ông chủ tôi trở về, trước nỗi kinh ngạc của tôi, bà Elizabeth lại ríu rít ngọt ngào trò chuyện với ông, bà lại còn tặng ông cái hôn vội vàng trên môi nữa. Cứ như không hề có điều gì xảy ra khi ông đi vắng. Những con chó chúng tôi thật không làm sao hiểu nổi con người!
Chẳng bao lâu, điều tôi chẳng bao giờ trông đợi đã xảy ra. Một buổi sáng ông chủ tôi thức dậy than mệt, khó thở, và đau ở ngực đau. Ông gõ máy vi tính một lúc rồi bảo phải đi bác sĩ. Đó là lần đầu tiên ông lái xe một mình không đưa tôi đi theo. Tôi nằm nhà ngóng ông suốt ngày hôm đó. Đến nửa đêm, vẫn không có dấu hiệu gì của ông. Rồi ngày hôm sau. Hôm sau nữa. Ông đã không trở về. Cuối cùng thì bà Elizabeth đến lo thức ăn và nước uống cho tôi. Thì ra bác sĩ ở phòng khám đã gọi xe đưa ông vào bệnh viện mổ cấp cứu ngay sáng ấy. Nhồi máu cơ tim kết hợp với tai biến mạch máu não. Tôi héo hắt, bỏ ăn. Bà Elizabeth và Sherry trở lại ngày hôm sau với một miếng thịt bò sống còn đỏ au – món đặc biệt yêu thích nhất của tôi, tôi cũng không màng. Tôi ra hiệu cho Sherry ăn hết.

Thế rồi theo yêu cầu của ông chủ tôi, một buổi tối bà Elizabeth được phép chở tôi vào bệnh viện thăm ông. Ngay khi rẽ vào khoa tim mạch, tôi đã có thể ngửi thấy mùi ông chủ tôi rồi. Chúng tôi theo bà y tá vào phòng ông. Một con người nằm đó, bất lực, với bao nhiêu thứ máy móc, lọ chai, và dây nhợ chằng chịt chung quanh. Tôi mừng rỡ nhảy phóc lên giường nhưng bà y tá chặn tôi lại. Không kiềm chế được sự kích động tôi xô bà y tá qua một bên, bấu hai chân trước lên giường, dí mõm vào khắp mặt mũi và cổ ông. Tôi hôn, tôi liếm, tôi hít lấy hít để cái mùi thân thuộc của ông như chưa từng bao giờ như vậy. Ông chủ tôi nước mắt cứ tràn ra, không nói được gì. Bà y tá thì cứ tìm cách kéo tôi xuống trong khi bà Elizabeth đứng bên sụt sùi khóc.
Đêm ấy tôi về nhà được hai tiếng đồng hồ thì ông chủ tôi ngừng thở.
Theo di chúc ông để lại, người ta đốt xác ông, thả tro xuống đầm nước ở cánh đồng lúa mì nơi ông và tôi thường đi săn vịt hoang. Bà Elizabeth dọn về nhà ông chủ tôi, tất nhiên với cả cậu con trai Andy và nàng chó Sherry. Căn phòng của tôi (dù tôi chẳng mấy khi sử dụng) trở thành của Andy. Nhưng không hề hấn gì, vì từ nay tôi có cơ hội ở gần Sherry ngay dưới chân cầu thang.
Việc đầu tiên bà Elizabeth làm là thuê người đến dọn dẹp. Sách vở và quần áo của ông, bà soạn ra đem cho một nhà thờ trong khu vực. Thứ gì bà muốn giữ lại thì được đánh rửa lau chùi, và sắp xếp lại cùng với đồ đạc từ nhà bà mang tới. Càng ngày, cái mùi rất thân thuộc của ông chủ tôi biến mất. Căn nhà bây giờ nhìn lạ lẫm, gọn ghẽ, ngăn nắp, sáng choang, và có cái mùi xà bông hay nước hoa gì đó hăng hắc mà tôi không ưa.
Không lâu sau đó, ông Jack cũng dọn đến. Rồi chiếcVolvo cũ của ông chủ tôi biến mất trong nhà xe, thay vào là chiếc Lexus đời mới. Rồi lâu lâu hai người lại mang về một món đồ mới, lúc thì cái giường, cái tủ, lúc thì dụng cụ làm bếp. Mọi thứ trong nhà dần dần được thay hết. Dấu vết ông chủ tôi mà tôi yêu quý nâng niu dần dần nhạt mờ đi.

******

Tôi từ từ mở mắt ra. Cảm thấy như mình vừa mới tỉnh dậy sau một giấc mơ sâu thẳm. Ô cửa vẫn còn bao phủ với tấm vải bông dày. Tôi biết mình vẫn còn đang sống. Thật lạ lùng, ngay khoảnh khắc này nỗi sợ về cái chết dường như không hề có trong tôi nữa. Trí óc tôi lại bắt đầu suy nghĩ miên man.  Tôi cứ nghiền ngẫm về những gì sẽ xảy ra sau khi ông Jack tiêm ống thuốc đó vào cơ thể tôi. Căn nhà này chắc sẽ bị hủy đi, người ta sẽ phải quét dọn xóa sạch hơi hướng của tôi. Bà Elizabeth chắc sẽ vẫn ngây thơ không biết đến sự dối lừa của ông Jack. Và nàng Sherry khù khờ không có tôi bên cạnh chắc hẳn sẽ tiếp tục rơi xuống địa ngục với thằng khốn Lucifer ấy.
Tuy nhiên, chỉ có một điều chắc chắn là: tất cả dấu vết của tôi trên mặt đất này sẽ nhanh chóng nhạt mờ đi. Cũng như ông chủ tôi vậy. Khi nào thì tới kiếp sau, nếu như có kiếp sau? Tôi tự hỏi, và chợt mong thần chết đến đón tôi nhanh hơn. Ðừng thử thách tôi nữa. Ðừng bắt tôi đợi chờ lâu nữa. Tôi sẵn sàng đây. Làm ơn hãy đến. Tôi thầm van vỉ.
Thế rồi âm thanh khô gắt của cánh cửa nhà xe đã rệu rã đang ì ạch cuốn lên. Tôi bật tiếng ho khan, mắt khép chặt trở lại.
Ông Jack và bà Elizabeth đã trở về.
 

Please follow and like us: