Tiểu Thuyết Chưa Chết-SALMAN RUSHDIE, NGUYỄN QUỐC TRỤ chuyển ngữ

Mới đây, tại Hội Những Nhà Xuất Bản Anh, Giáo sư Steiner xổ ra một miệng chữ: “Chúng ta ngày càng chán tiểu thuyết… Những thể loại văn học lên, rồi xuống, nào hùng ca, nào sử thi, nào bi kịch. Những đỉnh cao một thời, rồi sau đó, tàn lụi. Người ta vẫn còn viết tiểu thuyết, còn lâu mới thôi viết nó, nhưng, ngày càng là một cuộc tìm kiếm những hình thức lấp lửng, nửa đực nửa cái, điều mà chúng ta giản dị gọi là thực tại/giả tưởng…Tiểu thuyết làm gì được, vào những ngày như thế này, khi nó phải đọ sức với những thể loại mạnh khỏe hơn, thí dụ một bài phóng sự hảo hạng, hay cả một dòng triều dâng cao là thứ viết trực tiếp, nhảy xổ vào thực tại?…”
”Pindar có lẽ là người đầu tiên trong lịch sử, nói, Bài thơ này sẽ còn được cất lên khi mà thành phố mà nó ca ngợi đã mất tăm mất tích, không còn hiện hữu.” “Thách đố mới cao ngạo làm sao, như nhổ thẳng vào mặt Thần Chết. Ngày nay, ngay cả một thi sĩ lớn lao nhất cũng tỏ ra bối rối, khi đành phải đanh đá: Thơ của… tui không dành cho bạn!“
”Thì cũng chỉ là vô thường mà thôi, nhưng cái vô thường cổ điển kia mới cao ngạo làm sao: ” Ta còn mạnh hơn cả cái chết. Ta có thể xoa đầu nó, ở trong thơ của ta, bi kịch của ta, tiểu thuyết của ta, bởi vì ta đã chiến thắng nó, bởi vì ta, ít nhiều chi, thì cũng thường hằng, permanent”.
”Nào đâu, những cao ngạo như thế, vào giờ này?”

Thế là một lần nữa, bằng một giọng rổn rảng nhất, lời ai điếu lại đuợc cất lên. Thì cũng vẫn bản kẽm cũ, lời ca… xưa rồi Diễm ơi, về một Cái Chết Của Tiểu Thuyết. Cộng thêm vào cái chết của tiểu thuyết, Giáo sư Steiner kèm thêm cái chết [nếu không phải cái chết, thì là sự biển đổi triệt để] của Người Đọc, biến thành đứa con hoang đàng của máy điện toán, một thứ khùng điên, vô dụng; và cái chết, [hay ít ra, sự biến đổi triệt để thành một dạng điện tử] của Cuốn Sách, chính nó.
Cái chết của Tác Giả được thông báo cách đây nhiều năm, tại Pháp – và Cái chết của Bi Kịch thì được chính Giáo sư Steiner thông báo trước đó, bằng một lời ai điếu hết sức thê lương, để lại trên sàn diễn xác chết, nhiều hơn cả màn vãn tuồng Hamlet.
Sừng sững, uy nghi, và cũng trơ cu lơ, ở trên sàn diễn, giữa một đống tử thi, là me-sừ Fortinbras (1), chính luỷ, và trước lủy, tất cả chúng ta, những người viết của những bản văn không có tác giả, những người đọc của thời kỳ hậu-văn chương, Căn Nhà Usher tức kỹ nghệ in ấn, xuất bản – vương quốc Đan Mạch với một cái gì hư ruỗng ở trong nó – và luôn cả những cuốn sách, tất cả đều ngả đầu, trước… Nhà Phê Bình, chính luỷ!

Chú thích: (1). Fortinbras: nhân vật trong Hamlet, kịch Shakespeare, cháu gọi vua Na Uy bằng chú, trong khi Hamlet là con trai vua Đan Mạch. Fortinbras được coi là con người của hành động, còn Hamlet, của suy tư. Sau khi H. chết, F. tin rằng, H. mới xứng đáng là vua, nhưng điều này đâu có ngăn cản chuyện F. đoạt lấy ngai vàng Đan Mạch.

Một nhà văn thế giá cũng vừa mới tuyên bố về sự từ biệt cõi đời của một thể loại văn học mà ông ta là một trong những kẻ thực tập nổi tiếng. Ông V.S. Naipaul không những ngưng viết tiểu thuyết, mà còn bị dị ứng bởi chính cái từ tiểu thuyết: bây giờ, cứ mỗi lần nghe ai nhắc đến nó là ông cảm thấy bịnh. Cũng như Giáo sư Steiner, tác giả Một Căn Nhà Cho Ông Biswas cảm thấy rằng, tiểu thuyết đã sống quá dai, vượt quá hoàn cảnh, thời điểm lịch sử của nó, không còn có ích, và cũng chẳng còn nhiệm vụ nào dành cho nó nữa: Mi nên chết đi là vừa. Để cho kẻ khác thế chỗ mi, đó là cách viết sự kiện [factual writing]. Sẽ chẳng có ai ngạc nhiên, rằng, ông Naipaul như vậy là đang ở đúng bước ngoặt của lịch sử, và là người tiên phong, mở ra một thể loại  tân kỳ: Trường phái văn học tân hình thức thời kỳ hậu giả tưởng

Chú thích:  Ông Naipaul, và bây giờ là Ngài Vidia, mới cho xuất bản một cuốn tiểu thuyết, Nửa Đời Người, Half a Life, năm năm sau lời tuyên bố kể trên. Chúng ta phải cám ơn Ngài là đã mang cái thây ma trở lại với đời sống.

Một nhà văn lớn lao khác, cũng người Anh, đã từng phán:
“Rõ ràng là vào lúc này, thế giá của tiểu thuyết xuống quá thấp. Thấp đến nỗi câu “Tớ đếch thèm đọc tiểu thuyết”, trước đây người ta còn nói nho nhỏ, và có tí ti ra vẻ xin lỗi, cảm phiền ở trong đó, bi giờ người ta la vỡ làng vỡ xóm, và rất ư hãnh diện. Nếu không có những đầu óc kha khá sấn tay vô, sợ rằng tiểu thuyết sẽ trở nên nhạt phèo, chẳng bõ đọc, trở thành một thứ dị dạng, giống mấy tấm bia mộ hiện đại.”

Geoge Orwell đã viết những dòng trên, vào năm 1936. Người ta nói – và như Giáo sư Steiner xác nhận – tiểu thuyết chẳng hề có tương lai. Ngay cả những tác phẩm như Iliad và Odyssey, khi vừa mới ra lò đã bị mấy ông điểm sách chê lên chê xuống. Những thứ viết tốt luôn luôn bị tấn công, luôn luôn là bởi những nhà văn tốt. Cứ nhìn lại lịch sử văn học là thấy rõ, không có đại tác phẩm nào mà không bị tấn công khi vừa mới xuất hiện. Và [lẽ dĩ nhiên], chẳng có nhà văn nào mà yên thân với những đồng nghiệp của mình, một khi tiếng tăm của anh ta /chị ta có vẻ lên giá. [Gấu tôi lại nhớ tới lời mắng mỏ NHT, về tí tỉ tì ti danh tiếng quốc tế của ông: mới nho nhoe  một tí mà đã…].
Aristophanes đã từng gọi Euripides ‘tuyển tập gia những bản kẽm cũ mèm”; Samuel Pepys coi Giấc Mộng Đêm Hè [của Shakespeare] là ‘nhạt thếch và ngu xuẩn’; Charlotte Bronte ném tác phẩm của Jane Austen vào thùng rác; Zola coi Ác Hoa của Baudelaire là đồ bỏ; Henry James coi rác rưởi, những tác phẩm Middlemarch, Đỉnh Gió Hú, Người Bạn Chung Của Chúng Ta. Và tất cả mọi người đều nhếch mép khinh khi Săn Cá Voi Trắng [Moby Dick ]. Tờ Le Figaro thông báo, khi Bà Bovary vừa được xuất bản, tác giả của nó, “Ông Gustave Flaubert không phải là một nhà văn”. Virginia Woolf gọi Ulysses là “thứ đồ tầm bậy, vô học”; tờ Thư Tín Odessa viết về cuốn Anna Karenina, “một Marie Sến [sentimental rubbish]…. (1). Hãy chỉ cho tôi một trang có một mẩu tư duy ở trong đó.”
[Chú thích: (1) Xin lỗi, đùa nhả một tí. NQT]

Bây giờ, khi giới phê bình Đức tấn công Gunter Grass, khi, như tiểu thuyết gia và phê bình gia người Pháp, Guy Scarpetta cho chúng ta biết, giới văn học Ý “ngạc nhiên” về chuyện thế giới đánh giá cao hai nhà văn Italio Calvino và Leonardo Scascia , khi, những khẩu cà nông đều chĩa họng vào Saul Bellow, bắn ra những viên đại bác có tên là chính trị phải đạo, khi Anthony Burgess “coi nhẹ” Graham Greene, liền tức thì sau khi ông này mất, khi, Giáo sư Steiner, vẫn luôn luôn đầy tham vọng như là ngài vẫn là, bắt giò bắt gân, không chỉ vài nhà văn, mà trọn gói văn học Âu Châu sau khi thoát ra khỏi cuộc chiến, chúng ta hiểu rằng họ đều đau, nỗi đau hoài nhớ một thời đại hoàng kim văn hóa, trong đó có tiểu thuyết, rằng đây là một hoài nhớ lập đi lập lại, giống như chu kỳ của một thứ bịnh hoàng đởm, về một quá khứ văn học, mà vào lúc đỉnh cao của nó, chưa chắc đã tới mắt cá chân, hay đầu gối của nền văn học bi giờ.
Giáo sư Steiner nói, “Gần như là một định đề, rằng bi giờ, thứ tiểu thuyết loại gộc đến từ vùng biên cương xa vời, từ Ấn Độ, từ vùng biển Caribbean, từ Mỹ Châu La Tinh,”, và một vài người  sẽ cho rằng, tôi là một thằng khùng khi phản đối một tầm nhìn xa trông rộng, về một trung tâm tiểu thuyết đã cạn kiệt và một miền ven biên tràn trề sức sống. Nhưng nếu tôi có tỏ ra khùng khùng man man, một phần là do tiếng than van tiếc nuối cho một “Trung Nguyên” Âu Châu, của một dòng giống Hán tộc nào đó, nói rõ hơn, chỉ một tay trí thức Tây Âu mới thốt lên một lời ai điếu thê lương như vậy, cho cả một nền nghệ thuật, dựa trên căn bản, rằng, những nền văn chương, thí dụ như của Anh, Pháp, Đức, Tây Ban Nha không còn là những nền nhất đẳng văn chương ở trên trái đất này, [người ta không hiểu, Giáo sư Steiner coi Mỹ Châu là trung tâm, hay là ven biên, thành thử, một tầm nhìn xa trông rộng theo kiểu bằng bằng, chim bay là là, ở trên mặt trái đất, như của Giáo sư, thì thật khó mà theo cho nổi. Nhìn từ chỗ mà tôi đang ngồi, nền văn học Mẽo có vẻ đẹp dáng ra phết].

Vả chăng, mắc mớ gì tiểu thuyết loại gộc đến từ đâu, một khi mà chúng vưỡn tới? Và trái đất phèn phẹt nào vậy, nơi vị giáo sư tốt [the good professor] sống, với những người La Mã chán chường ở “Trung Nguyên” [ở trung tâm], và những người Hottentots [một giống dân Nam Phi], và những giống dân ăn thịt người, có tài một cách đáng sợ, ở mãi tít ven biên? Cái bản đồ mà Giáo sư Steiner có ở trong đầu, là một bản đồ hoàng gia, và những đế quốc Âu Châu, thì đã tuyệt chủng từ đời tám hoánh nào rồi. Cả một nửa thế kỷ, mà những sản phẩm văn học của nó đã chứng tỏ, cho hai vị Steiner và Naipaul, sự suy thoái của tiểu thuyết cũng là nửa đầu thế kỷ thời kỳ hậu-thuộc địa. Đâu có chi là khó hiểu, sự kiện, một trường phái tân tiểu thuyết đang nở rộ, một thứ tiểu thuyết hậu-thuộc địa, “đếch cần” một thánh địa “Trung Nguyên”, [không qui tâm, de-centered], xuyên-quốc gia, transnational,  liên-ngôn ngữ, inter-lingual, “giao lưu hòa hợp hòa giải” văn hóa, cross-cultural; và trong trật tự mới này, hay hỗn loạn, hổ lốn thì cũng được, chúng ta tìm thấy một lời giải thích tuyệt hơn, thú vị hơn, về một vóc dáng mạnh khoẻ, đỏ da thắm thịt của tiểu thuyết hiện đại, hơn là quan niệm thoát thai từ Hegel, và ra cái điều bố già, [không có Âu Châu thì lấy đâu ra tiểu thuyết], của Giáo sư Steiner, rằng, sáng tạo có ở miền “ven biên”, là do, đây là những khu vực “ở vào giai đoạn sớm sủa của văn hóa trưởng giả, thuộc một thể loại hoang sơ hơn, thô lỗ hơn, và cũng  nhiêu khê hơn”.
Nói cho cùng, từ thập niên này tới thập niên kia, chính quyền Franco đã thành công trong việc bóp nghẹt dòng văn chương [viết bằng tiếng] Tây Ban Nha, chính vì vậy mà mọi cặp mắt đều nhắm về những nhà văn tuyệt vời vùng Mỹ Châu La Tinh. Cái gọi là trăm hoa đua nở ở khu vực này, là hậu quả sự ung thúi thế giới trưởng giả cũ, cũng như sự sáng tạo hoang sơ cái mới. Và, thật kỳ cục, khi miêu tả  văn hóa cổ xưa, phức tạp và tế nhị [sophisticated] của Ấn Độ, là như sống trong một thời “xa xưa hơn, hoang dại hơn”, so với Tây Phương. Với những giai cấp thương mại lớn lao, hệ thống thư lại tỏa rộng ra mãi, sự bùng nổ kinh tế, Ấn Độ sở hữu một trong những nền trưởng giả rộng lớn nhất, đầy tiềm năng nhất trên thế giới, và nó là như vậy, bền lâu, vững chãi, chẳng thua gì Âu Châu. Một nền văn học lớn lao, khổng lồ, một giai cấp độc giả có học, là chẳng có chi là mới lạ đối với đất nước này. Cái mới, cái lạ, là, sự trồi lên, ló đầu, nở rộ, của một thế hệ tài năng những nhà văn Ấn Độ, viết bằng tiếng Anh (working in English). Cái mới, cái lạ, là ‘Trung Nguyên’ đã phải để ý tới một “miền ven biên”; miền ven biên này bắt đầu nói, trong hằng hà sa số những ấn bản, một thứ ngôn ngữ mà Tây Phương ngày càng dễ hiểu.
Còn cái chân dung mà Giáo sư Steiner vẽ ra, về một Âu Châu cạn kiệt, theo như suy nghĩ của tôi, là nhảm, thật nhảm. Và cũng thật dễ dàng chứng minh, rằng nó nhảm, thật nhảm. Năm chục năm gần đây nhất của nó đã cho chúng ta, chỉ kể một vài trong muôn vàn, những tác phẩm của Albert Camus, Graham Greene, Doris Lessing, Samuel Beckett, Italo Calvino, Elsa Morante, Vladimir Nabokov, Gunter Grass, Aleksandr Solzhenitsyn, Milan Kundera, Danilo Kis, Thomas Bernhard, Marguerite Yourcenar. Bạn có thể làm một danh sách của riêng bạn. Nếu tiện tay, bạn thêm vào đó những nhà văn vượt quá biên giới Âu Châu, thế là bạn có cả một mùa gặt giầu có như chưa từng giầu có như vậy, những nhà văn lớn đang sống và đang làm việc cùng một lúc – rằng cái sự bi quan dễ dãi của Steiner-Naipaul không chỉ làm cho chúng ta chán ngán, mà còn thật khó tin. Nếu Ngài Naipaul chẳng còn ao ước, và không thể viết tiểu thuyết nữa, chắc chắn đây là một tổn thất lớn lao cho chúng ta. Thôi đành vậy, chúng ta bèn tự nhủ thầm, nhưng nghệ thuật tiểu thuyết, không nghi ngờ chi, [sẽ bĩu dài cái môi, rằng vắng em thì chợ vưỡn cứ đông, rằng đường ta cứ đi, ruộng ta cứ cầy, tiểu thuyết ta cứ viết], vẫn sống nhăn răng, đếch cần tới ông ta.

Theo tôi, chẳng có khủng hoảng ở nghệ thuật tiểu thuyết. Tiểu thuyết, chính là dị dạng chân trong chân ngoài, nửa đực nửa cái [hybrid] mà Giáo sư Steiner than thở đó. Trong nó, có phần tra hỏi xã hội, có tính truyền kỳ mạn lục, hồn ma bóng quế, liêu trai chí dị, và có luôn cả cái phần thú tội theo kiểu kể trong đêm khuya, hồi ký viết dưới hầm, lời thú tội của một tên sát nhân… Như thế, tiểu thuyết luôn luôn vượt đường ranh, về tri thức cũng như về phong thổ. Tuy nhiên, ngài giáo sư đúng, khi cho rằng, rất nhiều nhà văn tốt đã làm mù mờ những đường ranh giữa sự kiện và giả tưởng. Cuốn tiểu thuyết tuyệt vời về Haile Selassie, The Emperor, của Ryszard Kapuscinski, là một thí dụ đầy tính sáng tạo, làm sao mù mù ảo ảo giữa hai miền thực và mộng. Cái gọi là thể Tân Báo Chí được phát triển ở Mỹ, bởi Tom Wolfe và những người khác, đúng là một toan tính thẳng thừng trấn lột quần áo của cô tiểu thư có tên là tiểu thuyết. Và trong trường hợp cuốn Radical Chic & Mau-Mauing the Flak Catchers, hay The Right Stuff, của chính Wolfe, toan tính trấn lột này đã thành công một cách thật là thuyết phục. Kiểu vừa đi đường vừa kể chuyện  “travel writing”, đã bung ra và ôm luôn những tác phẩm nặng tính suy tư văn hóa, Danube của Claudio Magris, thí dụ vậy, hay Biển Đen của Neal Ascherson. (1)

(1): Nếu nói về nặng tính suy tư văn hóa, Rushdie quên không kể, cuốn vừa đi đường vừa kể chuyện của Claude Lévi-Strauss: Tristes Tropiques, Nhiệt Đới Buồn Hiu. Nhan đề này cũng gây nhiều tranh luận, khi cuốn sách được dịch qua tiếng Anh, do chẳng có một từ tiếng Anh nào dịch nổi “Buồn Thiu”, hay “Buồn Hiu”, như trong ghi chú của người dịch, John and Doreen Weightman, nhà xb Penguin, 1992.

Kể từ khi cuốn này lần đầu tiên được dịch qua tiếng Anh vào năm 1955, nó đã nổi tiếng toàn thế giới qua cái tên bằng tiếng Tây của nó – và do yêu cầu của M. Lévi-Strauss- chúng tôi đã giữ nguyên tên tiếng Tây cho lần in này. Những cái tít có thể có bằng tiếng Anh, như “Sad Tropics”, hay “The Sadness of the Tropics”, hay, “Tragic Tropics”… không hoàn toàn chuyển hết nghĩa, hoặc hàm ý của “Nhiệt Đới Buồn Hiu”, vì từ này ôm trong nó tính hài, tính thơ… và còn vì lời than, “Than ôi, thời oanh liệt nay còn đâu”, của một con hổ nhớ rừng! [“Alas for the Tropics”].
Và trước một “tour de force” [một tác phẩm người viết phải đánh vật với nó], thông minh, sáng chói, như Cuộc hôn nhân của Cadmus và Harmony, của Roberto Calasso, trong đó việc tái thẩm định những huyền thoại Hy lạp đã đẩy độc giả tới đỉnh cao của sự căng thẳng và niềm hoan lạc, mà chỉ những cuốn tiểu thuyết bảnh nhất mới có thể làm nổi, và người đó, hoặc vỗ đùi bành bạch, hoặc nghiêng đầu chào đón sự ra đời của một thể loại mới, một cách viết, tuy “hình thức” thì có vẻ như một thứ tiểu luận, nhưng “nội dung” thì tràn trề tưởng tượng [a new kind of imaginative essay writing], hay đúng hơn, sự trở về của lối viết vui nhộn mà lại mang tính bách khoa của Diderot, hay của Montaigne. Tiểu thuyết có thể chào mừng những phát triển như vậy, mà chẳng hề lo sợ, bị đe dọa, hoặc lấn đất giành dân, hoặc đành phải chấp nhận một cuộc ngưng chiến da beo! Có chỗ cho tất cả chúng ta, nào chống cộng cực đoan, nào hận thù nam bắc, nào giao lưu hòa giải, hoà hợp dân tộc!
Cách đây ít năm, tiểu thuyết gia người Anh, Will Self cho ra lò một cái truyện ngắn tếu “Lý Thuyết Lượng Tử Về Khùng Điên”, trong đó giả dụ, con số khỏe mạnh của nhân loại đã được ấn định, hoặc có thể là một hằng số; nếu như vậy, toan tính chữa bịnh khùng cho loài người là vô ích, bởi vì một anh này ở Việt Nam, thí dụ vậy, được chữa khỏi, thì một ả kia ở Mẽo chẳng hạn, dính trấu. Cứ thử tưởng tượng tất cả chúng ta cùng ngủ chung một giường, chỉ có một cái mền, và cái mền này – tức sự khỏe mạnh –  nhỏ quá, không đủ che cho tất cả. Một người kéo chiếc mền, lập tức mấy ngón chân một người khác ló ra. Đúng là quá tức cười, nhưng lạ lùng thay, nó làm chúng ta liên tưởng tới lập luận “cà chớn” [zaniest] của Giáo sư Steiner, nhưng thay vì cà chớn thì giáo sư trình bầy bằng một giọng rất ư là nghiêm túc: rằng, tại bất cứ một thời điểm nào đã cho, đều hiện hữu một tổng số xác định những tài năng sáng tạo, và vào lúc này, mấy thằng chả kia , tôi muốn nói, ba cái trò điện ảnh, truyền hình, và ngay cả quảng cáo, kéo cái mền về phiá chúng nó, thế là cô tiểu thư tiểu thuyết bị hở banh ra, nằm co ro run rẩy trong cái lạnh khủng khiếp của mùa đông văn hóa của chúng ta [our cultural winter].
Khổ một nỗi, lý thuyết trên đây “nhảm” ở chỗ, nó giả dụ mọi tài năng sáng tạo thì giống nhau y chang, nghĩa là cùng một loại. Áp dụng ý niệm trên vào môn điền kinh là thấy ngay sự phi lý tổ bố của nó. Con số những cao thủ marathon không hề giảm đi, một khi môn thể thao này phổ thông mãi ra. Phẩm chất  vận động viên nhảy cao không mắc mớ gì tới con số cao thủ nhảy sào.
Có vẻ như sự xuất hiện những thể loại, những hình thức mới mẻ của nghệ thuật đã cho phép nhiều nhóm người mới mẻ nhập vào cuộc chơi sáng tạo. Tôi biết rất ít, những đạo diễn bậc thầy kiêm luôn tiểu thuyết gia bậc thầy: Satyajit Ray, Ingmar Bergman, Woody Allen, Jean Renoir, và chỉ có thế. Nụ hôn tuyệt vời mà ông tài tử lừng danh gốc Hy Lạp dành cho nàng Lara ở trong phim Vĩnh Biệt Tình Em, theo bạn, liệu thay thể nổi [và đích xác là] mấy trang, Bác sĩ  Zhivago? (1). Những cao thủ viết kịch bản phim, họ là những cao thủ, chắc chắn rồi, nhưng họ không suy nghĩ theo kiểu văn chương mà theo kiểu điện ảnh.
Nói ngắn gọn, sự đe dọa của những môn chơi đòi hỏi kỹ thuật cao không làm tôi lo âu nhiều, so với Giáo sư Steiner. Có lẽ chính sự kiện quá đơn giản, nếu nói về kỹ thuật viết [chỉ cần cây viết mẩu giấy], chính cái đó, đã làm cho văn chương sống sót, và cứ sống sót hoài. Những phương tiện biểu tỏ nghệ thuật đòi hỏi con số lớn lao nguồn tài chánh, kỹ thuật tân kỳ, rắc rối, tinh vi – tôi  muốn nói,  những trò chơi như điện ảnh, kịch, diã – chính vì chúng như thế, nên bị tuỳ thuộc, và do đó, bị kiềm chế, kiểm duyệt, trong khi, làm sao nhà nước toàn trị  có thể huỷ diệt đuợc điều mà nhà văn lặng lẽ làm, trong cô đơn của một gian phòng?

(1) Nguyên văn: Bạn có thể đọc bao nhiêu trang sách đầy những chất liệu nóng bỏng của Quentin Tarenrino, bao nhiêu lần những tên găng tơ của ông ta nói chuyện đợp Big Macs tại Paris, hay là thay vì đọc, hãy nhờ mấy tay tài tử Samuel Jackson hay John Travolta nói giùm cho những trang sách đó?

Tôi  “chịu”  Giáo sư Steiner, khi ông ca ngợi khoa học hiện đại, ‘nơi nào có vui chơi hưởng thụ, ăn nhậu đớp hít,  là nơi đó có hy vọng, có nhiệt tình, có ý nghĩa lớn lao về một thế giới cứ thế mà nối vòng tay lớn mí nhau’, nhưng sự bùng nổ sáng tạo mang tính khoa học này, tức cười thay, là một cú đá giò lái cho “lượng thuyết sáng tạo” [quantity theory of creativity] của ông. Ý tưởng những nhà văn lớn đầy tiềm năng sáng tạo bị mất đi, nhường chỗ cho sự nghiên cứu khoa học tiềm-nguyên tử [sub-atomic], cho lỗ đen, là một chuyện khó tin, và nếu bạn có nghĩ ngược lại, thì cũng khó tin chẳng kém. Chẳng lẽ những tác giả nổi tiếng, thí dụ như Jane Austen, James Joyce, thay vì viết văn, lại chọn một “thiên hướng” khác, thế là có một Newton, hay một Einstein, của thời họ?
Trong khi tra hỏi luợng tính sáng tạo trong tiểu thuyết hiện đại, Giáo sư Steiner đã chỉ lộn hướng cho chúng ta. Nếu có cái gọi là khủng hoảng tiểu thuyết ở trong văn chương những ngày như thế này, thì nó thuộc vào một dạng khác, không như giáo sư la hoảng.

Tiểu thuyết gia Paul Auster mới đây có nói với tôi, tất cả những nhà văn Mẽo đều nghĩ rằng, cái việc viết lách của họ đó chẳng qua là nhảm nhí, chẳng đi đến đâu, ở cái đất nước Mẽo của họ, nó giống như đá banh, người Mẽo không thích môn chơi thể thao đại chúng, ít tốn tiền, dành cho nhà nghèo này. Nhận xét này giống như một hồi âm cho nhận xét của Milan Kundera, trong tác phẩm tiểu luận mới nhất của ông, Những Di Chúc Bị Phản Bội,  trong đó, ông phàn nàn, “Âu Châu đã bất lực trong việc chống đỡ và giải thích [giải thích một cách kiên trì cho chính nó và cho những người khác], rằng đệ nhất đẳng nghệ thuật của Âu Châu, là nghệ thuật tiểu thuyết; nói một cách khác, Âu Châu đã bất lực trong việc bảo vệ và giải thích, văn hóa của chính nó. “Những đứa con của tiểu thuyết đã bỏ mặc nghệ thuật tạo nên hình dáng của họ. Âu Châu, xã hội của tiểu thuyết, đã bỏ rơi cái tôi của chính nó”.

Auster đang nói tới cái chết, nghĩa là sự hững hờ của người Mẽo, đối với việc đọc tiểu thuyết; còn Kundera, cảm quan về một cái chết , nghĩa là sự cắt đứt liên hệ văn hóa giữa người đọc Âu Châu, với sản phẩm văn hóa – ở đây,  là tiểu thuyết. Cộng thêm vào đây, đứa trẻ ngày mai của ngài Steiner, một đứa trẻ mù chữ, mê máy điện toán đến phát khùng, thế là chúng ta có thể có được cái chết của việc đọc, chính nó.

Mà có lẽ, không phải như vậy. Bởi vì văn chương, nhất là thứ bảnh, thứ hảo hạng, không phải là món hàng ai ai cũng quan tâm, ai ai cũng vồ vập. Quan trọng văn hóa của nó không phải ở chuyện đánh đấm xếp hạng, mà là, nó bảo cho chúng ta biết, về chính chúng ta, và chúng ta không thể kiếm thấy những lời chỉ bảo đó, ở những môn nghệ thuật khác. Và thiểu số – thiểu số những con người được sửa soạn và sẵn sàng bỏ tiền ra mua sách tốt để đọc – thiểu số này lạ lùng sao, chưa từng nhiều như vậy, so với trước đây. Vấn đề phải quan tâm, là vấn đề này. Đừng lo lắng đến cái chết của độc giả, mà hãy để ý đến sự hoang mang, sững sờ của họ.

Tại Mẽo, trong năm 1999, hơn năm ngàn tiểu thuyết mới đã được xuất bản. Năm ngàn! Chỉ cần năm trăm cuốn tiểu thuyết có thể xuất bản được, và được viết ra trong một năm, như vậy đã là một phép lạ! Phép lạ biến thành “phép lạ của phép lạ”, nếu trong số năm trăm cuốn có thể xuất bản được đó, có năm chục cuốn thuộc loại tốt. Và cả nhân loại chúng ta sẽ mừng rú lên, nếu trong số năm chục cuốn tốt đó, có một cuốn, một và chỉ một mà thôi, là “một” đại tác phẩm!

Đám xuất bản, nhà nào nhà nấy, in sách ào ào, là bởi vì những biên tập viên tốt bị cho về vườn và không cần người thay thế, và ám ảnh về con số doanh thu khiến không còn phân biệt nổi tác phẩm xấu và tốt. Hãy để cho thị trường sách vở quyết định, hình như đa số các nhà xuất bản đều nghĩ như vậy. Cứ  tống hàng ra, thế nào cũng có cuốn dính! Thế là năm ngàn cuốn bầy ê hề trên quầy, và sau đó, từ trên quầy rớt xuống “lò thiêu”, bao thứ lửa quảng cáo cũng chẳng làm sao cứu nổi. Đúng là một cuộc hành trình tự huỷ. Như Orwell đã nói từ năm 1936 – Bạn thấy đấy, làm có gì mới ở dưới ánh mặt trời – ‘quảng cáo giết tiểu thuyết’ [nguyên văn: the novel is being shouted out of existence: Tiểu thuyết đang được la lối đến nỗi ngỏm củ tỏi]. Độc giả, thất lạc giữa khu rừng nhiệt đới, gồm toàn là những tiểu thuyết rác rưởi, và thấy mình trở thành thô bỉ, vì thứ ngôn ngữ quảng cáo ngoa dụ chẳng còn có chút giá trị mà cuốn nào cuốn nấy tự khoác cho nó,  bèn dơ cả hai tay lên trời than, tớ chịu thua, tớ bỏ cuộc! Mỗi năm, tớ mua chừng vài cuốn được giải này giải nọ, có thể, một hai cuốn của những tác giả mà tớ biết tên, và sau đó, tớ bỏ chạy! In ào ào, và ngoa dụ quảng cáo khiến người đọc đếch thèm đọc sách nữa! Vấn đề không phải là, quá nhiều những cuốn tiểu thuyết  câu một số quá ít độc giả, mà là, quá nhiều cuốn tiểu thuyết xua đuổi một số quá ít đọc giả chạy vãi linh hồn [1] ra quần!

Chú thích: Chữ “vãi linh hồn” này, mượn của nữ văn sĩ Phạm Hải Anh.

Nếu in một cuốn tiểu thuyết đầu tay là “đánh bạc chống lại thực tại”, như Giáo sư Steiner đề nghị, thì vấn đề này phần lớn là do in ào ào, cứ nhắm mắt in cầu may, mà ra. Vào những ngày này, người ta nói tới một tinh thần làm ăn mới, tàn nhẫn về tiền bạc trong xuất bản. Nhưng cái mà người ta cần, là một sự tàn nhẫn trong biên tập, thứ tuyệt hảo. Chúng ta cần một cái nhìn khác, một cái nhìn trở lại, trong nhận định, đánh giá.

Và còn một thứ nguy hiểm khác nữa mà vị Giáo sư Steiner này quên không nhắc tới, đó là, sự tấn công vào tự do trí thức, chính nó; tự do trí thức, không có nó, không có văn chương. Vả chăng, đây đâu phải là nguy hiểm mới. Một lần nữa,George Orwell, vào năm 1945, đã dâng tặng cho chúng ta một lời khuyên thật khôn ngoan, rất ư là có giá trị đương thời, và xin bạn tha lỗi cho tôi, về câu trích dẫn hơi dài dòng, sau đây:

“Vào thời đại của chúng ta, tư tưởng tự do trí thức bị tấn công ở cả hai phiá. Một phiá, là những kẻ thù lý thuyết, nhũng tên ca tụng chế độ toàn trị, [hay, những tên cuồng tín, nói như vậy hợp thời hơn, vào những ngày như thế này],; và ở phiá kia, những kẻ thù sờ sờ, đó là quốc doanh, độc quyền và thư lại. Trong quá khứ […..], những ý niệm về nổi loạn và sự vẹn toàn về trí thức, chúng trùng khớp với nhau, có thể nói, là một. Một tay dị giáo, theo tà thuyết – về chính trị, đạo đức, tôn giáo, hay về cái đẹp – là một con người nào đó, người này từ chối hiếp đáp, chính luơng tâm của mình, từ chối vứt lương tâm của mình vào thùng rác.

[Vào những ngày như thế này], có một đề nghị rất ư là nguy hiểm [đó là], tự do là thứ đếch xài được, chẳng ai thèm [undesirable] , rằng, lương thiện trí thức là một hình thức ích kỷ chống lại xã hội, anti-social selfishness. Những kẻ thù của tự do trí thức luôn luôn cố làm cho người ta tin rằng, nếu chúng chống tự do trí thức, vì đây là một điều rất cần làm, một thứ kỷ luật đề ra, vì đám đông, vì tập thể, một cá nhân là cái thống chế gì, so với nhân dân! Nhà văn nào mà từ chối bán ngòi bút của mình, chúng bèn gán cho họ là những tên vị kỷ, thứ đồ chỉ biết có mình nó, đâu cần biết đến người khác. Nhà văn như thế, bị buộc tội, hoặc là, tự nhốt mình vào trong tháp ngà, hoặc, coi mình như là một nơi trình diễn, của chính cá nhân mình, hoặc một kẻ đi ngược lại trào lưu của đất nước, ngược lại  ba ngọn trào cách mạng, chỉ để nhằm bấu víu, bảo vệ những đặc quyền không làm sao biện minh được nữa của giới viết lách. [Nhưng], muốn viết không cần luồn lách, là phải suy nghĩ không sợ hãi, và nếu người nào suy nghĩ không sợ hãi, thì người đó không thể nào chấp nhận một đường lối chính trị chính thống.”

Sức ép của quốc doanh độc quyền và của chế độ thư lại, chủ nghĩa tổ hợp cá lớn nuốt cá bé, bảo thủ, hạn chế và thu hẹp phạm vi và phẩm chất của xuất bản, những chuyện đó, bất cứ một nhà văn hiện đang viết, đều biết. Về sức ép của điều không thể chấp nhận được, và của kiểm duyệt , bản thân tôi, mấy năm gần đây, được biết khá nhiều, phải nói là bội thu hiểu biết. Có rất nhiều những cuộc chiến đấu như thế đang xẩy ra trên thế giới: Tại Trung Quốc, Iran, Thổ Nhĩ Kỳ, Ai Cập, Nigeria, những nhà văn bị kiểm duyệt, phiền nhiễu, làm khó dễ, bỏ tù, và bị giết nữa. Ngay cả ở Âu Châu, ở Hoa Kỳ, những “đội quân dông bão” [ám chỉ những những tên Nazi], những tên “biệt kích” [commandos] , của đủ thứ máu nóng, lạnh, đủ thứ “cảm tính”, chúng tìm cách hạn chế tự do ăn nói của chúng ta. Chưa bao giờ quan trọng bằng lúc này, tiếp tục bảo vệ những giá trị nhờ chúng mà có nghệ thuật tiểu thuyết . Cái chết của tiểu thuyết thì có thể còn xa, nhưng cái chết dữ dội của nhiều tiểu thuyết gia đương thời, than ôi, là một sự kiện không làm sao tránh được. Mặc dù vậy, tôi không tin rằng những nhà văn lại từ bỏ giấc đại mộng, tác phẩm của ta sẽ trường tồn cùng với hậu thế, sau khi ta đã ngỏm củ tỏi rồi. Điều mà George Steiner gọi một cách thật đáng yêu “vô thường thôi, nhưng thật là cao ngạo”, của văn chương, vẫn luôn luôn nóng bỏng ở trong chúng ta, cho dù, như ngài giáo sư nói, chúng ta tỏ ra bối rối, khi phải nói ra công khai.

 

 

[Trong mỗi chúng ta đều có một Sài Gòn âm ỉ cháy. Tôi đốt lên ngọn nến của tôi, để cho Sài Gòn của bạn sáng ngời.
NQT: Lần Cuối Sài Gòn].

 

Nhà thơ Ovide đã đánh dấu chấm hết cho tác phẩm Metamorphoses của ông bằng những vần thơ đầy tin tưởng:

Nhưng, với tất cả tinh hoa ở trong tôi
Tôi sẽ chiếm được địa vị cao vời vợi, tuyệt vời hơn cả muôn sao
Tên của tôi sẽ không thể xóa nhòa và sẽ còn mãi mãi.

 

Tôi chắc chắn, ở trong trái tim của từng nhà văn, đều có cùng một tham vọng như vầy: người đời còn nhắc nhở đến tôi, trong những ngày sẽ tới, cùng cái điều mà nhà thơ Rilke nghĩ về Orpheus:

Orpheus sẽ đời đời là thiên sứ
Đi qua địa ngục
Mang cho đời hoa trái ngời ngời.

 

Tháng Năm 2000

 

Dịch từ nguyên tác: In Defense of the Novel, Yet Again. In trong Step Across this line, Hãy bước qua lằn ranh này, tuyển tập tiểu luận 1992-2002

 

In Defense of the Novel, Yet Again

At the centenary conference of the British Publishers’ Association recently, Professor George Steiner said a mouthful:

We are getting very tired in our novels…. Genres rise, genres fall, the epic, the verse epic, the formal verse tragedy. Great moments, then they ebb. Novels will continue to be written for quite a while but, increasingly the search is on for hybrid forms, what we will call rather crassly fact/fiction…. What novel can today quite compete with the best of reportage, with the very best of immediate narrative?…

Pindar [was] the first man on record to say, this poem will be sung when the city which commissioned it has ceased to exist. Literature’s immense boast against death. To say this today even the greatest poet, I dare venture, would be profoundly embarrassed… The great classical vainglory – but what a wonderful vainglory – of literature. “I am stronger than death, I can speak about death in poetry, drama, the novel, because I have overcome it, because I more or less permanent.” That is no longer available.

So here it is once more, wrapped up in the finest, shiniest rhetoric: I mean of course, that tasty old chestnut, the death of the Novel. To which, Professor Steiner adds, for good measure, the death (or at least, the radical transformation) of the Reader, into some sort of computer whiz-kid, some sort of super-nerd; and the death (or at least the radical transformation, into electronic form) of the Book itself. The death of the Author having been announced several years ago in France— and the death of Tragedy by Professor Steiner himself in an earlier obituary—that leaves the stage strewn with more bodies than the end of Hamlet.

Still standing in the midst of the carnage, however, is a lone, commanding figure, a veritable Fortinbras, before whom all of us, writers of authorless texts, post-literate readers, the House of Usher that is the publishing industry—the Denmark, with something rotten in it, that is the publishing industry-and indeed books themselves, must bow our heads: viz., naturally, the Critic.

One prominent writer has also in recent weeks announced the demise of the form of which he has been so celebrated a practitioner. Not only has V S. Naipaul ceased to write novels: the word “novel” itself, he tells us, now makes him feel ill. Like Professor Steiner, the author of A House for Mr. Biswas feels that the novel has outlived its historical moment, no longer fulfills any useful role, and will be replaced by factual writing. Mr. Naipaul, it will surprise no one to learn, is presently to be found at the leading edge of history, creating this new post-fictional literature.*

Another major British writer has this to say “It hardly needs pointing out that at this moment the prestige of the novel is extremely low, so low that the words ‘I never read novels,’ which even a dozen years ago were generally uttered with a hint of apology, are now always uttered in a tone of pride … the novel is likely, if the best literary brains cannot be induced to return to it, to survive in some perfunctory, despised, and hopelessly degenerate form, like modern tomb-stones, or the Punch and Judy Show.”

That is George Orwell, writing in 1936. It would appear—as Professor Steiner in fact concedes—that literature has never had a future. Even the Iliad and Odyssey received bad early reviews. Good writing has always been attacked, notably by other good writers. The most cursory glance at literary history reveals that no masterpiece has been safe from assault at the time of its publication, no writer’s reputation unassailed by his contemporaries: Aristophanes called Euripides “a cliche anthologist…

* Mr Naipaul – now Sir Vidia-published a new novel, Haifa Life, five years after making this statement. We must thank him for bringing the dead form back to life.

… and maker of ragamuffin manikins”; Samuel Pepys thought A Midsummer Night’s Dream “insipid and ridiculous”; Charlotte Bronte
dismissed the work of Jane Austen; Zola pooh-poohed Les Fleurs du Mal; Henry James trashed Middlemarch, Wuthering Heights, and Our Mutual Friend. Everybody sneered at Moby-Dick. Le Figaro announced, when Madame Bovary was published, that “M. Flaubert is not a writer”; Virginia Woolf called Ulysses “underbred”; and the Odessa Courier wrote of Anna Karenina, Sentimental rubbish. . . . Show me one page that contains an idea.”

So, when today’s German critics attack Glinter Grass, when today’s Italian literati are “surprised,” as the French novelist and critic Guy Scarpetta tells us, to learn of Italo Calvino’s and Leonardo Scascia’s high international reputations, when the cannons of American political correctness are turned on Saul Bellow, when Anthony Burgess belittles Graham Greene moments after Greene’s death, and when Professor Steiner, ambitious as ever, takes on not just a few individual writers but the whole literary output of post-war Europe, they may all be suffering from culturally endemic golden-ageism: that recurring, bilious nostalgia for a literary past which never, at the time, seemed that much better than the present does now. Professor Steiner says, “It is almost axiomatic that today the great novels are coming from the far rim, from India, from the Caribbean, from Latin America,” and some will find it surprising that I should take issue with this vision of an exhausted center and vital periphery. If I do so, it is in part because it is such a very Eurocentric lament. Only a Western European intellectual would compose a lament for an entire art form on the basis that the literatures of, say, England, France, Germany, Spain, and Italy were no longer the most interesting on earth. (It is unclear whether Professor Steiner considers the United States to be in the center or on the far rim; the geography of this flat-earther vision of literature is a little hard to follow. From where I sit, American literature looks to be in good shape.) What does it matter where the great novels come from, as long as they keep coming? What is this flat earth on which the good professor lives, with jaded Romans at the center and frightfully gifted Hottentots and Anthropophagi lurking at the edges?

The map in Professor Steiner’s head is an imperial map, and Europe’s empires are long gone. The half century whose literary output proves, for Steiner and Naipaul, the novel’s decline is also the first half century of the post-colonial period. Might it not simply be that a new novel is emerging, a post-colonial novel, a de-centered, transnational, inter-lingual, cross-cultural novel; and that in this new world order, or disorder, we find a better explanation of the contemporary novel’s health than Professor Steiner’s somewhat patronizingly Hegelian view that the reason for the creativity of the “far rim” is that these are areas “which are in an earlier stage of the bourgeois culture, which are in an earlier, rougher, more problematic form.” It was, after all. the Franco regime’s success in stifling decade after decade of Spanish literature that shifted the spotlight to the fine writers working in Latin America. The so-called Latin American boom was, accordingly, as much the result of the corruption of the old bourgeois world as of the allegedly primitive creativity of the new. And the description of India’s ancient, sophisticated culture as existing in an “earlier, rougher” state than the West is bizarre. India, with its great mercantile classes, its sprawling bureaucracies, its exploding economy, possesses one of the largest and most dynamic bourgeoisies in the world, and has done so for at least as long as Europe. Great literature and a class of literate readers are nothing new in India. What is new is the emergence of a gifted generation of Indian writers working in English. What is new is that the “center” has deigned to notice the “rim,” because the “rim” has begun to speak in its myriad versions of a language the West can more easily understand. Even Professor Steiner’s portrait of an exhausted Europe is, in my view, simply and demonstrably false. The last fifty years have given us the oeuvres of, to name just a few, Albert Camus, Graham Greene, Doris Lessing, Samuel Beckett, Italo Calvino, Elsa Morante, Vladimir Nabokov, Gunter Grass, Aleksandr Solzhenitsyn, Milan Kundera, Danilo Kis, Thomas Bernhard, Marguerite Yourcenar. We can all make our own lists. If we include writers from beyond the frontiers of Europe, it becomes clear that the world has rarely seen so rich a crop of great novelists living and working at the same time—that the easy gloom of the Steiner-Naipaul position is not just depressing but unjusified. If V.S. Naipaul no longer wishes, or is no longer able, to write novels, it is our loss. But the art of the novel will undoubtedly survive without him.
There is, in my view, no crisis in the art of the novel. The novel is precisely that “hybrid form” for which Professor Steiner yearns. It is part social inquiry, part fantasy, part confessional. It crosses frontiers of knowledge as well as topographical boundaries. He is right, however, that many good writers have blurred the boundaries between fact and fiction. Ryszard Kapuscinski’s magnificent book about Haile Selassie, The Emperor, is an example of this creative blurring. The so-called New Journalism developed in America by Tom Wolfe and others was a straightforward attempt to steal the novel’s clothes, and in the case of Wolfe’s own Radical Chic & Mau-Mauing the Flak Catchers, or The Right Stuff, the attempt was persuasively successful. The category of “travel writing” has expanded to include works of profound cultural meditation: Claudio Magris’s Danube, say, or Neal Ascherson’s Black Sea. And in the face of a brilliant non-fictional tour de force such as Roberto Calasso’s The Marriage of Cadmus and Harmony, in which a re-examination of the Greek myths achieves all the tension and intellec-tual excitement of the best fiction, one can only applaud the arrival of a new kind of imaginative essay writing—or, better, the return of the en-cyclopedic playfulness of Diderot or Montaigne. The novel can wel-come these developments without feeling threatened. There’s room for all of us in here.

A few years ago the British novelist Will Self published a funny short story called “The Quantity Theory of Insanity,” which suggested that the sum total of sanity available to the human race might be fixed, might be a constant; so that the attempt to cure the insane was useless, as the effect of one individual regaining his sanity would inevitably be that someone somewhere else would lose theirs, as if we were all sleep- ing in a bed covered by a blanket—of sanity—that wasn’t quite big enough to cover us all. One of us pulls the blanket toward us; another’s toes are instantly exposed. It is a richly comic idea, and it recurs in Professor Steiner’s zaniest argument, which he offers with a perfectly straight face—that at any given moment, there exists a total quantum of creative talent, and at present the lure of the cinema, television, andeven of advertising is pulling the blanket of genius away from the novel, which consequently lies exposed, shivering in its pajamas in the depths of our cultural winter. The trouble with the theory is that it supposes all creative talent to be of the same kind. Apply this notion to athletics and its absurdity be- comes apparent. The supply of marathon runners is not diminished by the popularity of sprint events. The quality of high jumpers is unrelated to the number of great exponents of the pole vault. It is more likely that the advent of new art forms allows new groups of people to enter the creative arena. I know of very few great filmmakers who might have been good novelists— Satyajit Ray, Ingmar Bergman, Woody Alien, Jean Renoir, and that’s about it. How many pages of Quentin Tarantino’s snappy material, his gangsters’ riffs about eating Big Macs in Paris, could you read if you didn’t have Samuel Jack-son or John Travolta speaking them for you? The best screenwriters are the best precisely because they think not novelistically but pictorially.

I am, in short, much less worried than Steiner about the threat posed to the novel by these newer, high-tech forms. It is perhaps the low-tech nature of the act of writing that will save it. Means of artistic expression that require large quantities of finance and sophisticated technology-films, plays, records—become, by virtue of that dependence, easy to censor and to control. But what one writer can make in the solitude of one room is something no power can easily destroy. I agree with Professor Steiner’s celebration of modern science— “today that is where the joy is, that is where the hope is, the energy, the formidable sense of world upon world opening up,” but this burst of scientific creativity is, ironically, the best riposte to his “quantity theory of creativity.” The idea that potential great novelists have been lost to the study of sub-atomic physics or black holes is as implausible as its opposite: that the great writers of history—Jane Austen, say, or James Joyce—might easily, had they but taken a different turning, have been the Newtons and Einsteins of their day.
In questioning the quality of creativity to be found in the modern novel, Professor Steiner points us in the wrong direction. If there is a crisis in present-day literature, it is of a somewhat different kind. The novelist Paul Auster recently told me that all American writers had to accept that they were involved in an activity which was, in the United States, no more than a minority interest, like, say, soccer. This observation chimes with Milan Kundera’s complaint, in his new vol- ume of essays, Testaments Betrayed, of “Europe’s incapacity to defend and explain (explain patiently to itself and to others) that most European of arts, the art of the novel; in other words, to explain and defend its own culture. The ‘children of the novel,’ ” Kundera argues, “have abandoned the art that shaped them. Europe, the society of the novel, has abandoned its own self.”

Auster is talking about the death of the American reader’s interest in this kind of reading matter; Kundera, about the death of the European reader’s sense of cultural connection with this kind of cultural product. Add these to Steiner’s illiterate, computer- obsessed child of tomorrow, and perhaps we are talking about some- thing like the death of reading itself. Or perhaps not. For literature, good literature, has always been a mi- nority interest. Its cultural importance derives not from its success in some sort of ratings war but from its success in telling us things about ourselves that we hear from no other quarter. And that minority—the minority that is prepared to read and buy good books—has in truth ever been larger than it is now. The problem is to interest it. What is happening is not so much the death as the bewilderment of the reader.

 

In America, in 1999, over five thousand new novels were published. Five thousand! It would be a miracle if five hundred publishable novels had been written in a year. It would be extraordinary if fifty of them were good. It would be cause for universal celebration if five of them— if one of them!—were great. Publishers are over-publishing because, in house after house, good editors have been fired or not replaced, and an obsession with turnover has replaced the ability to distinguish good books from bad. Let the market decide, too many publishers seem to think. Let’s just put this stuff out there. Something’s bound to click. So out to the stores they go, into the valley of death go the five thousand, with publicity ma-chines providing inadequate covering fire. This approach is fabulously self-destructive. As Orwell said in 1936—you see that there is nothing new under the sun—”the novel is being shouted out of existence.” Readers, unable to hack their way through the rain-forest of junk fic- tion, made cynical by the debased language of hyperbole with which every book is garlanded, give up. They buy a couple of prizewinners a year, perhaps one or two books by writers whose names they recognize, and flee. Over-publishing and over-hyping creates under-reading. It is not just a question of too many novels chasing too few readers but a question of too many novels actually chasing readers away. If publish- ing a first novel has become, as Professor Steiner suggests, a “gamble against reality,” it is in large part because of this non-discriminatory, scatter-gun approach. We hear a lot, these days, about a new, business- like spirit of financial ruthlessness in publishing. What we need, however, is the best kind of editorial ruthlessness. We need a return to judgment.

And there is another great danger facing literature, and of this Professor Steiner makes no mention: that is, the attack on intellectual liberty itself; intellectual liberty, without which there can be no literature. This is not a new danger, either. Once again, George Orwell, writing in 1945, offers us much remarkably contemporary wisdom, and you will forgive me if I quote him at some length:

“In our age, the idea of intellectual liberty is under attack from two directions. On the one hand are its theoretical enemies, the apologists of totalitarianism [today one might say, fanaticism], and on the other its immediate practical enemies, monopoly and bureaucracy. In the past… the idea of rebellion and the idea of intellectual integrity were mixed up. A heretic—political, moral, religious, or aesthetic—was one who refused to outrage his own conscience.
[Nowadays] the dangerous proposition [is] that freedom is undesirable and that intellectual honesty is a form of anti-social selfishness. The enemies of intellectual liberty always try to present their case as a plea for discipline versus individualism. The writer who refuses to sell his opinions is always branded as a mere egoist. He is accused, that is, either of wanting to shut himself up in an ivory tower, or of making an exhibitionist display of his own personality or of resisting the inevitable current of history in an attempt to cling to unjustified privileges. [But] to write in plain language one has to think fearlessly and if one thinks fearlessly one cannot be politically orthodox.”

The pressures of monopoly and bureaucracy, of corporatism and conservatism, limiting and narrowing the range and quality of what gets published, are known to every working writer. Of the pressures of intolerance and censorship, I personally have in these past years gained perhaps too much knowledge. There are many such struggles taking place in the world today: in Algeria, in China, in Iran, in Turkey, in Egypt, in Nigeria, writers are being censored, harassed, jailed, and even murdered. Even in Europe and the United States, the storm troopers of various “sensitivities” seek to limit our freedom of speech. It has never been more important to continue to defend those values that make the art of literature possible. The death of the novel may be far off, but the violent death of many contemporary novelists is, alas, an inescapable fact. In spite of this, I do not believe that writers have given up on posterity. What George Steiner beautifully calls the “wonderful vainglory” of literature still fires us, even if, as he suggests, we are too embarrassed to say so in public. The poet Ovid sets these great, confident lines at the end of his Metamorphoses:

But, with the better part of me, I’ll gain
a place that’s higher than the stars: my name,
indelible, eternal, will remain.*

I am sure the same ambition still resides in every writer’s heart: to be thought of, in times to come, as Rilke thought of Orpheus:
He is one of the staying messengers,
who still holds far into the doors of the dead
bowls with fruits worthy of praise.!**

May 2000

Salman Rushdie

*Allen Mandelbaum’s translation of the Metamorphoses of Ovid (Hartcourt Brace, 1993)

** M.D. Herter Norton’s translation, from Translations from the Poetry of Rainer Maria Rilke (W.W. Norton, 1993 reissue).

Please follow and like us: