Châu Âu ký sự/Trở lại xứ Gà trống Gô-loa-NGUYỄN CHU NHẠC

Quán cafe ở khu phố Đèn đỏ, Paris.

 

5. Paris từ café hè phố…

Nói đến nước Pháp, nhất là Paris, mà không đả động gì đến những quán café thì sẽ là một thiếu sót. Lại càng đáng trách hơn, nếu bỏ quên café hè phố…
Lẽ dĩ nhiên, café Paris, thượng thặng vẫn là quán Le Procop được thành lập từ năm 1686, lâu đời nhất châu Âu, là nơi lui tới thường xuyên của các bậc danh nhân nổi tiếng thế giới ( tôi đã nêu ở phần 1 ký sự này ); rồi đó, là các quán café nổi tiếng khác như “Le Chat Noir”, nằm trong khu đồi Monmartre, quán “Café de Flore” và quán “Les Deux Magots”…

Vâng, đấy là những quán café lâu đời và nổi tiếng của Paris, dành cho giới thượng lưu, quan chức, văn nghệ sĩ, du khách khắp thế giới tò mò muốn biết… Còn với phần đông người dân Paris, café hè phố mỗi sáng, ngày ngày, từ lâu đã thành một thói quen, thành phong cách, và cao hơn là thành văn hóa đời thường…
Từ thế kỷ 17, ở Pháp, đặc biệt là Paris, các bậc vua chúa, giới quý tộc thượng lưu, các văn nghệ sĩ, triết gia và các nhà cách mạng đều có cái thú nhâm nhi café, tán gẫu, tranh luận, ngồi viết sách, hoặc bàn bạc việc tổ chức biểu tình, làm cách mạng tại các quán café… Cái thú ấy lan dần sang giới bình dân, và nhiều năm sau, dần trở thành thói quen, thành phong cách sống.
Người ta cho biết, hiện trên toàn nước Pháp có khoảng 70 ngàn quán café để phục vụ cho 5 triệu lượt người uống café mỗi ngày. Điều đó, cho thấy người Pháp coi café như là một nhu cầu thiết yếu, dùng café đến cỡ nào, sành café ra sao ?…
Loại café được người dân Paris lựa chọn là loại café thượng hạng, café Arabica ( cà phê chè ), phần lớn được nhập từ Brésile; còn loại café Robusta ( cà phê vối ) có nguồn gốc châu Phi, châu Á ( trong đó có Việt Nam ) ít được dùng hơn.
Nước Pháp, cụ thể là Paris, có chủ chương và chính sách ưu tiên cho nhu cầu hưởng thụ café của người dân. Chính vì vậy, các quán café được phép lấn ra đến một nửa hè phố, tạo nên café hè phố, thành phong cách, văn hóa café độc đáo của riêng mình.
Chuyện râu ria của văn hóa café Paris, ấy là chuyện “ thăm viếng ngài Uy-li-am Cường “ hàng ngày của mọi người. Thường ra, Paris có hệ thống nhà vệ sinh công cộng ( toilet, WC ) trên phố xá khá tiện lợi. Khi cần, người ta chỉ cần bỏ tiền kim loại ( trước đây là 2 franc, nay là 2 eur thì phải ) là được thoải mái xả thải rồi. Song, không hiểu từ bao giờ, người dân Paris, nhất là dân nghiền café, đã biết kết hợp hai nhu cầu ấy với nhau. Khi có nhu cầu đi toilet, thay vì tìm đến cái Toilet công cộng, người ta lại tìm vào quán café hè phố, đơn giản, bởi cũng chỉ phải bỏ ra số tiền tương đương ( hoặc nhỉnh hơn một chút ), thì cùng một lúc, được hưởng thụ cả hai thứ nhu cầu, ấy là được uống một tách café, và có thể đi toilet nhờ của nhà quán.
Ôi, thật là một sáng kiến tuyệt diệu, nhất cử lưỡng tiện!… Mười sáu năm trước, khi học ở Paris, chúng tôi đã được một Việt kiều cao tuổi ( khi đó ông đã có hơn 50 năm sống ở nước Pháp ) bày cách cho. Giờ trở lại Paris, hỏi ra, người ta vẫn cứ “ nhất cử lưỡng tiện “ như vậy…

 

6… Đến bảo tàng Louvre…

“ Louvre là một viện bảo tàng nghệ thuật và lịch sử. Có vị trí ở trung tâm lịch sử thành phố, bên bờ sông Seine. Louvre vốn là một pháo đài được vua Philippe Auguste cho xây dựng vào năm 1190. Cuối thế kỷ 14, dưới thời Charles V, Louvre trở thành cung điện hoàng gia và sau đó tiếp tục được mở rộng qua các triều đại. Từ năm 1672, khi triều đình Pháp chuyển về lâu đài Versailles, bộ sưu tập hoàng gia được lưu trữ tại Louvre. Thời kỳ Cách mạng Pháp, cung điện trở thành bảo tàng, mở cửa ngày 10 tháng 8 năm 1793… Louvre là một trong những viện bảo tàng nổi tiếng nhất thế giới, nơi trưng bày các hiện vật về những nền văn minh cổ, nghệ thuật Hồi giáo và nghệ thuật châu Âu từ thế kỷ 13 cho tới giữa thế kỷ 19. Với diện tích 210 ngàn mét vuông, Louvre trưng bày 35.000 trên tổng số 380.000 hiện vật. Trong bộ sưu tập của bảo tàng Louvre hiện nay có những tác phẩm nổi tiếng bậc nhất của lịch sử nghệ thuật, như Tượng thần Vệ Nữ, Tượng thần chiến thắng Samothrace, Mona Lisa, Nữ thần Tự do dẫn dắt nhân dân, cùng các hiện vật giá trị về những nền văn minh cổ, như phiến đá ghi bộ luật Hammurabi, tấm bia Mesha… “.

Đây là những dòng tóm tắt nhất về Louvre, khi nó là bảo tàng thu hút nhất thế giới.
Năm 1996, khi học ở Paris, tôi đã ghé thăm Louvre đôi lần, chủ yếu là vào dịp cuối tuần được miễn phí theo quy định. Khi ấy, đi quáng quàng, xem vội vàng, và hiểu biết về nó qua tài liệu cũng chưa nhiều. Tôi nhớ, lúc ấy tôi quá mất thời gian xem ngắm khu vực trưng bày hội họa, và thấy thích theo cảm tính song không mấy hiểu. Chụp ảnh thì cả đoàn 5 người có mỗi chiếc máy cơ chụp phim, nên rất chi là dè xẻn, đắn đo lâu lâu mới dám bấm một kiểu. Thế nên, cả một tháng rưỡi học ở Paris, cộng thêm mấy ngày đi hội nghị mãi tận miền Nam nước Pháp, mà giờ đây tôi chỉ còn lưu giữ được mấy chục tấm ảnh in tráng. Loanh quanh trong Louvre, mà chỉ còn giữ ấn tượng về căn phòng ở của vua Naponeon III và chiếc giường nằm của hoàng hậu. Khi về Việt Nam rồi, bạn bè hỏi, vào Louvre có đến ngắm bức tranh Mona Lisa của danh họa Leonar de Vinci không; có chiêm ngưỡng tượng Vệ nữ Milo không ?… Lúc ấy mới ngớ người ra chưa biết.
Lần này, thì tôi phục thù. Bước chân vào Louvre là nhăm nhăm theo hướng dẫn tìm đến thẳng phòng trưng bày bức họa nổi tiếng Mona Lisa, rồi mò tiếp đến điểm trưng bày tượng Vệ nữ Milo. Mặc dù thời gian không nhiều, chỉ khoảng 3 giờ đồng hồ, tôi cũng cố gắng lướt như bay, gắng đi gắng nhìn được càng nhiều, càng tốt, máy ảnh kỹ thuật số bấm lia lịa. Khác với lần trước, lần này tôi có cảm giác, Louvre đầy bí ẩn. Sở dĩ có cảm giác vậy, là bởi, đã đọc tiểu thuyết “ Mật mã Da Vinci “ và xem bộ phim chuyển thể cùng tên. Với mỗi bức tranh, mỗi công trình nghệ thuật, điêu khắc, mỗi hiện vật trưng bày, mình đều có cảm giác ở đó dương như ẩn chứa những ký hiệu, mật mã bí hiểm nào đó. Rờn rợn và thú vị lắm. Rồi nữa, ngắm mấy bức tượng cổ Vệ nữ, lại khiến tôi liên tưởng đến một truyện ngắn tôi không tên chính xác của ông nhà văn người Pháp là Prôxpe Mêrimê ( ông nhà văn này là tác giả của truyện ngắn Carmen nổi tiếng ). Truyện kể về một anh chàng cưới vợ, do giận nhau nhất thời đã tháo chiếc nhẫn cưới của mình đeo vào ngón tay bức tượng vệ nữ cổ mà dân làng mới vô tình đào được, và ngay đêm tân hôn, bức tượng vệ nữ đã làm thay cô dâu cái việc động phòng, đè chết chú rể. Dĩ nhiên, tác giả đã sử dụng yếu tố hoang đường làm cho câu chuyện thêm kỳ quái, song rõ ràng, ở đây, nội hàm của nó là sắc đẹp có thể giết chết một con người, giết chết một sự nghiệp …; và dù, ý thức được là vậy, song nhiều khi con người ta cũng không từ bỏ khi có cơ hội được chiêm ngưỡng và hưởng thụ sắc đẹp !…
Xin không kể nhiều về Louve nữa, bởi có nói thêm bao nhiêu thì cũng chẳng thấm tháp gì. Chỉ ước mong, một ngày nào đó, nếu được trở lại Paris, thì điểm đến hấp dẫn tôi, vẫn cứ là Louvre…

 

[còn tiếp]

Please follow and like us: