Mùi thiên đàng-MC AMMOND NGUYỄN THỊ TƯ

Ody Saban [Thổ Nhĩ Kỳ, 1953]

 

 

 1.
Tôi đã từng có một niềm tin tuyệt đối vào Đấng Tối Cao. Tôi tin có Chúa, Đấng đã tạo dựng lên trời đất, bóng tối và ánh sáng. Ngài đã tạo dựng ra các loài cỏ cây, chim trời, cá biển,  thú rừng, súc vật, và côn trùng. Ngài lại còn dựng lên loài người chúng ta giống hình ảnh của Ngài để quản trị tất cả những muông thú đó. Đó là Đấng thiêng liêng vô hình mắt ta không trông thấy nhưng rất mực nhân từ và yêu thương ta vô bờ bến. Ngài luôn để mắt trông coi mọi điều trên thế gian. Vâng, từ rất lâu tôi đã tin như thế…

         Nó bất chợt dừng lại. Bao nhiêu cặp mắt hau háu hướng về nó, chờ đợi. Nó im lặng như để tăng thêm sự chú ý của lũ con trai con gái trong lớp đang tuổi choai choai sẵn sàng làm loạn. Nó tiếp tục. Nhưng cứ mỗi ngày qua đi…cái giọng hùng biện như có ma lực của nó vang lên trở lại… thấy và nghe càng nhiều những điều diễn ra chung quanh, tôi dần dà nhận ra rằng có cái gì như thảm họa, có cái gì không ổn ở đây.

Cả lớp đang lắng nghe “Dung Giu-đa,” con bé thường hay báng bổ Chúa như kẻ dị giáo. Không biết đứa nào lúc đầu gọi đùa nó giờ ai trong trường trung học tư thục St. Mary này cũng biết đến con bé gốcViệt mang biệt danh kẻ phản Chúa ấy. Nhưng nó không tự ái chút nào. Nó nói một cách ương bướng: “Sao gọi Giu-đa là kẻ phản phúc? Trong mười hai môn đệ của Chúa Giêsu, Giu-đa mới chính là nhân vật sáng giá nhất trong Tân Ước, vì đã có công giúp Chúa Giêsu thực thi sứ mạng cứu chuộc nhân loại. Giả như ông ta không đem bán Chúa Giêsu với ba chục bạc, Chúa Giêsu không bị bắt bởi đế chế La Mã, và không bị đóng đinh, thì mọi sự đã hỏng bét, không xảy ra đúng với kế hoạch của Đức Chúa Cha trên trời”.

Các thầy cô không thích nó. Nó như cái bóng Sa-tăng, kích động, chờn vờn, thách đố. Nó hay thắc mắc, lý sự, hỏi những điều gai góc ranh ma bất ngờ họ khó thể trả lời ngay. Chẳng hiểu thế nào trời lại phú cho nó cái óc sắc sảo và cái lưỡi tinh khôn. Mọi người tự hỏi. Nó bắt chước tài tình kiểu danh hài Mỹ George Carlin giễu cợt mọi thứ trên đời. Hôm nay tranh thủ giờ âm nhạc thầy giáo bệnh không đến lớp, “Dung Giu-đa” đứng lên trước lớp nhại lại màn diễn thuyết của George Carlin về tôn giáo. Tất nhiên có phần thêm thắt của nó.  Chiến tranh, chết chóc, bệnh tật, đói nghèo, cướp bóc, lừa đảo, tham ô, đồi trụy, hành hình, tra tấn, và bao thứ xấu xa tội lỗi khác…Ai trong chúng ta không thừa nhận trần thế mỗi ngày một điên đảo hơn? Nếu có ông Chúa có trách nhiệm quan phòng mọi sự thì rõ là ổng kém cỏi bất tài mới để những chuyện nhơ nhuốc xảy ra trên mặt đất như vậy…Tiếng cười khoái chí của đám trẻ trong phe nó rộ lên, tiếng vỗ tay rầm rập nhịp theo “Được lắm Giu-đa. Tiếp tục đi!” xen lẫn tiếng đập bàn la ó phản đối, rồi giọng một đứa con trai quát rõ to, “Im mồm, quân vô đạo!” Con bé trưởng lớp da đen béo ục ịch đứng dậy kêu gọi giữ trật tự, yêu cầu Dung Giu-đa trở về chỗ ngồi. Nhưng cái giọng uy lực đầy bí ẩn của nó lấn át tất cả. Nếu con người nhất thiết phải có một người hay một vật gì để thờ phượng và tôn kính, tôi thà chọn mặt trời. Tại sao mặt trời ư? Này nhé, nó là một vật hữu hình, tôi có thể nhìn thấy được. Không như ông Chúa ở tuốt trên mấy tầng mây chẳng ai ngó thấy bóng dáng, nhưng phải ráng tin rằng Ngài hiện diện ở khắp mọi ngõ ngách, không gì lọt qua mắt Ngài được. Vâng, có lẽ tôi giống như ông Thomas môn đệ của Chúa. Cái gì mắt thấy mới tin. Tôi chọn thờ mặt trời vì mỗi ngày tôi đều có thể nhìn thấy nó. Nó cho mọi thứ tôi cần trong cuộc sống. Nhiệt, ánh sáng, thực phẩm, bông hoa đủ sắc màu trong công viên, vẻ đẹp của sự phản chiếu trên mặt hồ. Không có vụ đóng đinh trên thánh giá, không có chuyện ném người ta trên giàn lửa chỉ vì họ không cùng tư tưởng với mình. Thờ mặt trời rất dễ. Không thần bí, không phép màu, không nghi lễ phô trương. Không ai hỏi tiền mình. Không phải học hát thánh ca. Không cần đến nhà thờ khoe xe hay khoe quần áo. Chỉ cần bước ra khỏi cửa là nhìn thấy mặt trời. Và một điều tôi cảm kích nhất về mặt trời là nó không khi nào bảo rằng ngay giây phút cất tiếng khóc chào đời tôi đã mang trong mình tội tổ tông Ađam và Eva truyền lại, nó không bao giờ phán rằng tôi là kẻ hèn hạ, tội lỗi, xấu xa cần phải được cứu rỗi…

Tưởng chỉ là chút bỡn cợt mua vui cho lớp học như nó vẫn làm mọi bữa. Không ngờ đối với nhà trường đó là giọt nước cuối cùng tràn khỏi ly. Nó không bị cảnh cáo đuổi học vài ngày như những lần trước. Lần này hội đồng kỷ luật quyết định trục xuất nó. Theo họ thấy, đầu óc ngỗ nghịch chống đối của nó rõ ràng đã bị ma quỷ lung lạc. “Nếu cô ấy còn ở trong trường ắt sẽ gây tác hại khôn lường đến những tâm hồn ngây thơ khác.” Gương mặt linh mục hiệu trưởng rầu rầu, bày tỏ cảm thông với nỗi bất hạnh của ba nó, nhưng nhấn mạnh trách nhiệm của cha mẹ trong việc dạy dỗ con cái. Đã đến lúc phải làm lại từ đầu. Cha mẹ phải làm gương trước, phải sống theo kiểu mẫu gia đình ông Giu-se thợ mộc ở thành Nazaret thuở xưa. Giọng linh mục đều đều với ba nó như đang trên bục giảng trong nhà thờ. Sau bài thuyết trình về bổn phận của cha me, ba nó được hướng dẫn làm thủ tục giấy tờ để chuyển cho nó sang trường công. “Môi trường bên đó sẽ có những thử thách mới. Chúc ông thành công trong việc uốn nắn con bé. Nó thông minh lắm, nhưng…,” linh mục hiệu trưởng ngừng lời và bắt tay ba nó.

Bữa cơm chiều hôm ấy, ba nó giận dữ quát tháo và vơ hết chén bát trên bàn ném tới tấp lên đầu lên mặt nó, “Đồ khốn kiếp – Ba nó gầm lên – Mười mấy năm nay tao không bao giờ tin mày là con gái tao cả”. Má nó nhào tới can, còn nó ôm gương mặt trầy trụa máu chạy lên lầu vào phòng nó.

Mấy vết cắt trên mặt khiến nó phải vào trạm xá sáng hôm sau. Rồi buổi chiều cùng ngày hai người cảnh sát xuất hiện ở hãng lắp ráp hàng điện tử tìm gặp ba nó. Đây là lần thứ hai ba nó bị truy tố với tội sỉ nhục và đánh đập trẻ con.  Lần thứ nhất cách đó mười năm lúc nó đang học mẫu giáo. Ba nó bực mình nó gì đó, lấy ống máy hút bụi khõ lên đầu nó mấy cái. Hôm sau đi học chẳng biết nó nói với cô giáo thế nào mà dẫn tới việc cảnh sát đến nhà đọc lệnh bắt ba nó. Ba nó bị buộc tội hành hung con gây thương tích. Vì là lần đầu, quan tòa chỉ kiểm điểm phê phán, và bắt viết cam kết.

Lần tái phạm này, tốn hơn năm ngàn đô cho luật sư, thêm lá thư bảo lãnh của má nó, ba nó mới được ra với sáu tháng án treo kèm theo một loạt điều kiện. Từ sau sự cố ấy nó được xếp ở căn phòng dưới tầng hầm để tránh va chạm với ba nó. Còn ba nó, may là trong thời gian thi hành án vẫn được đi làm, tuy bị theo dõi. Vài ba ngày lại có một bà nhân viên tổ chức bảo vệ nhân quyền trẻ em ghé thăm gia đình, phỏng vấn từng người trong nhà và ghi chép tỉ mỉ.

 

Những lần trước nó chỉ đi qua đêm rồi hôm sau dẫn xác về. Má nó hỏi đi đâu nó trả lời cụt ngẳn “nhà bạn” rồi biến vào phòng đóng cửa lại. Lần này nó mất dạng đã ba ngày. Ba nó dửng dưng. Từ sau  buổi sáng đúng mùng một Tết Việt Nam bị cảnh sát còng tay giải đi trước mặt bao người trong hãng, ba nó thề không dính gì tới nó, coi như không có nó trên đời nữa. Nhưng má nó bắt đầu lo. Quần áo, đồ đạc nó vẫn còn nguyên trong căn phòng dưới tầng hầm. Má nó lục được cuốn sổ ghi điện thoại di động của đám bạn nó. Lần lượt từng số, má nó gọi. Lũ bạn nó toàn tên Tây, không đứa nào nói tiếng Việt. Tiếng Anh má nó lại ít. Ai đó bày cho má nó nói một câu hết sức lịch sự và nhũn nhặn, hy vọng lấy được tin tức từ đám trẻ ngang tàng ấy. “Hello, John (hoặc Danny, hoặc Linda v.v..). Mẹ của Dung đây. Thật lòng xin lỗi làm phiền cháu, nhưng cháu làm ơn cho biết Dung có ở đó không để bác khỏi lo.”  Có đứa cộc lốc, “không biết” rồi cúp máy. Có đứa hố lên cười, “Xin lỗi. Tôi không phải là người giữ trẻ của bà”. Có đứa tuôn ra một tràng dài tiếng Anh má nó không hiểu nhưng má nó cứ nói xin lỗi và cảm ơn, rồi gác máy. Không thể liên lạc nhà trường vì còn hơn tuần lễ nữa mới vào năm học mới. Người quen bày cho má nó báo cảnh sát để họ tìm giúp.

Từ mùa thu năm đó, tên nó được đưa vào danh sách những đứa trẻ mất tích của thành phố. Có tấm ảnh mới nhất của nó kèm theo.

 

3.

Má nó nói, “Con ráng tập ăn đồ Việt mình, để khỏi bị chê mất gốc”. Con bé chỉ nhún vai. Cá kho tộ nó bảo tanh. Nước mắm nó bảo khắm. Bún bò Huế nó không ăn, bảo cọng bún to trông khiếp như bầy giun. Tuần nào đi chợ má nó cũng phải mua thức ăn riêng cho nó. Bánh mì sandwich, pizza, hoặc các món đông lạnh chỉ cần bỏ vào lò vi ba hâm nóng. Bà nội nó bĩu môi, “Cái thứ đầu đen mũi tẹt mới chừng đó bày đặt muốn thành Tây. Cũng tại con mẹ nó không dạy từ bé.” Nhưng thực ra nó cũng không thích đồ Tây, nó chỉ mê nấm thông. Cái thứ nấm dại nổi tiếng hiếm và đắt tiền chỉ xuất hiện vào mùa thu ở mấy siêu thị Á Đông cao cấp mà người Việt bên này hay đua theo người Nhật và người Tàu mua ăn. Hàng loại năm loại sáu, đầu đã bung tét lét cũng hơn chục đô một bông. Nướng, chiên, xào, nấu súp, má nó chế biến kiểu gì nó cũng ưng. Gia đình nó chẳng phải thuộc loại nhiều tiền hay thích đua đòi, cái món cũng không hợp khẩu vị ba má nó, nhưng vì nó thích, gặp khi giá nới một chút má nó cũng mua. Má nó bảo cái mùi nấm thông kỳ cục, khai như nước đái, thum thủm như vớ đeo chân mấy ngày chưa giặt. Nó thì nói mùi của thiên đàng. Mùi thiên đàng ra làm sao, má nó hỏi. Con bé vật lộn với vốn từ tiếng Việt ít ỏi của nó, thiên đàng là… giống như cái mùi của mấy thứ chung lại, mùi đất, mùi thông và mùi…Nó ngắc ngứ không tìm ra từ tiếng Việt … cinnamon. Nó thường chêm tiếng Anh khi bí tiếng Việt. “Cái gì? Cinnamon?” Má nó không hiểu. Nó chạy lên lầu tìm cuốn tự điển Anh-Việt rồi từ trên cầu thang hét xuống nhà bếp cho má nó nghe, “quế!” Má nó lắc đầu, “Đồ khùng!”

Bấy giờ nó học lớp hai. Trong bài tập làm văn lớn lên em thích làm gì, nó viết: trở thành một nhà nghiên cứu nấm, chuyên về nấm thông. Trả lời phần tại sao, nó viết: vì nấm thông có mùi thiên đàng. Nó vẽ kèm theo trong bài một góc rừng thông với những khuy nấm lác đác ngoi lên từ mặt đất. Cô giáo chấm bài, gạch đít cụm chữ “mùi thiên đàng” và đánh một dấu hỏi bên cạnh. Nhưng nó chẳng màng gặp cô giáo để giải thích. Thấy nó hay vào mạng đọc về nấm thông ba nó rầy, “Có liên quan gì tới bài vở trong trường!”

Năm lớp tám, nó đưa về nhà lá thư của ban tổ chức cuộc thi sáng tác văn thơ dành cho học sinh cấp hai toàn tỉnh. Bài thơ nó đoạt giải nhì. Má nó không đọc được tiếng Anh. Ba nó không thèm đọc hết lá thư, bảo: “Thơ với phú! Tích sự quái gì mấy thứ này!” Ba nó lờ luôn việc cho nó ba chục đồng để đặt mua tập sách in bài các tác giả trúng giải. Nó cũng không buồn nhắc. Sau này trở vào trường cũ của nó, ba nó tình cờ nhìn thấy quyển sách. Bài thơ nó nhan đề Mùi Thiên Đàng, mô tả loài nấm dại ấy như thứ tặng vật của đất trời mà con người bao thế kỷ qua cất công trồng không được.

 

[còn tiếp]

Please follow and like us: