Mùi thiên đàng [tiếp theo và hết]-MC AMMOND NGUYỄN THỊ TƯ

Paola Grizi / Ý

 

 

Mùi thiện đàng kỳ trước

 

4.

Chẳng biết có đúng như người ta nói tính cách đứa trẻ nào cũng ít nhiều phản ảnh trạng thái cảm xúc của người mẹ trong thời kỳ mang thai. Ba nó bảo má nó phá đi, phải đợi bảo lãnh ông bà nội ở Việt Nam sang rồi mới cưới hỏi và tính chuyện sanh con được. Má nó uống mấy liều thuốc Tàu nhưng cái thai không chết. Cái bụng má nó cứ lớn ra. Cho đến giờ bà nội nó vẫn còn ức chuyện ba nó dám tư tiện làm đám cưới với má nó bên này không chờ bố mẹ qua. Bà bảo không đời nào bà chấp nhận đứa con trai duy nhất của bà lấy vợ mà bỏ qua bí tích hôn phối như vậy. Thực ra ba nó có vào thưa chuyện với vị linh mục người Việt xin làm lễ cưới gấp, nhưng cha xứ một mực đòi má nó trước tiên phải học giáo lý sáu tháng.  Bà nội nó sang đến Canada thì con bé đã được một tuổi. Thoạt nhìn thấy nó là bà ác cảm. Cái mặt không có một nét gì giống bên nội. Giống y gái mẹ nó. Da ngăm, trán dồ, mắt một mí sắc lẻm, môi dầy trề trề. Hiếm khi thấy nó cười. Mặt lúc nào cũng buồn xịu. Càng lớn tính nết nó càng trái khoáy, không bình thường như những đứa trẻ khác. Đi đến đâu nó gây rối đến đó. Bà nội nó đổ thừa “tại mẹ nó không đạo hạnh, không biết đến Chúa, không đi lễ nhà thờ, không đọc kinh cầu nguyện, làm sao dạy được nó”.

Bà nội ghét má nó vì hai lẽ: một là má nó người Nam, hai là má nó không tín ngưỡng và nhất định không chịu rửa tội gia nhập đạo Công Giáo. Văn hóa chưa hết lớp năm, lớn lên từ một làng quê khổ và nghèo ở Gò Công Tây, má nó vượt biên với cô em gái sang Canada lúc 19 tuổi. Má nó nhìn không đẹp, tính khí như con trai, ăn nói thì thẳng tuột, không ý tứ nể nang. Biết mẹ chồng không ưa, má nó không ngán, bảo ba nó: “Ghét dâu là lẽ thường, nhưng con Dung nó là máu mủ của anh, là cháu nội duy nhất của má, má phải thương phải gần gũi nó chứ”.

Ba nó không bao giờ nói cho má nó biết sự ngờ vực của gia đình và bạn bè ba nó. Biết có phải con mày không? Cái thứ con gái đi vượt biên sống loang toàng trong mấy trại tị nạn tin sao nổi. Bà nội nó có lần nói thẳng mặt ba nó. Còn mấy người bạn thân thỉnh thoảng đùa bảo ba nó ở xứ sở văn minh này cái gì cũng khó tin lắm, muốn biết hư thực chỉ có đi thử ADN. Ba nó cũng thú nhận rằng cuộc hôn nhân với má nó chẳng qua là sự thuận tiện. Còn má nó, má nó thường bô lô với mọi người về việc chia tay với người yêu cũ trước khi gặp ba nó như thế nào. “Quen nhau đã mấy tháng, cũng định cưới. Một hôm đi shopping. Ở nhà em chỉ toàn nồi nhôm và i-nốc, em muốn tìm mua một cái nồi thủy tinh để nấu canh dưỡng sinh. Em bảo anh ta hỏi chủ tiệm cho em, nhưng anh ta mở miệng không ra. Chừng đó em mới biết anh ta qua Canada không học hành gì cả. Mình đã dốt, lấy người dốt nữa làm sao sống nổi ở đất này, làm sao giúp con cái học hành được.”

Má nó bảo má nó “chấm” ba nó vì tuy không có của nhưng giỏi tiếng Anh, lại tốt nghiệp kỹ sư điện tử hẳn hoi. Bấy giờ ba nó mới học xong, chưa tìm ra việc làm, cứ đi đi về về căn phòng trọ của má nó, má nó bao ăn bao ở, lại còn phụ trả hơn chục ngàn đô tiền nợ đi học cho ba nó. Rồi má nó có bầu nó. Rồi ba nó phải làm đám cưới. Nghe phong phanh những chuyện như vậy, bà nội nó hứ, “Cái thứ dụ dỗ đàn ông con trai”.

Bà xét nét con dâu từng lời ăn tiếng nói.  Có lần bà bị bệnh, má nó đi chợ về ghé qua bỏ một túi đồ lên bàn nói: “Cho má nè. Hai cây chả lụa”. Bà ghét không thèm trả lời. Má nó về rồi bà bắt lỗi cái từ “cho”, nghe thật chướng tai, lẽ ra phải nói “biếu má” mới phải. Thứ con gái trong Nam ăn nói lỏng chỏng không ý tứ khuôn phép. Ông nội nó bảo bà nội nó không nên phàn nàn, ở đây con dâu còn mang quà đến thăm mẹ chồng là tốt lắm rồi. Ông còn bảo ba nó chẳng thể kiếm đâu ra đứa nào giỏi hơn má nó. Mà thật vậy. Mấy người bạn ba nó về Việt Nam rước mấy cô vợ trẻ đẹp qua chỉ biết chưng diện xài tiền, chồng nai lưng làm mấy cũng không đủ.

Còn ba nó, lấy má nó xấu xí ít học quê mùa nhưng mới ba năm trả đứt được căn nhà trăm rưỡi ngàn đô. Ai cũng phải nể. Má nó lúc nào cũng làm quần quật. Hồi mang bầu, má nó làm cho tới ngày đẻ. Đẻ xong ba tuần là gởi con đi làm trở lại. Ban ngày cắt rau đóng gói cho siêu thị, tối đi dọn vệ sinh cho một sòng bài dưới phố. Thứ bảy chủ nhật phụ bếp cho một tiệm phở. Làm tiền mặt trốn được thuế, má nó thu nhập hơn cả lương kỹ sư của ba nó. Ba nó ngoài giờ làm không đi uống bia với bạn bè thì ngồi hàng giờ bên máy vi tính với cái thú nghiên cứu hàng điện tử đấu giá. Mọi việc trong nhà một tay má nó. Khoản này thì mẹ chồng không chê nàng dâu được. Nhưng điều làm bà bực bội nhất là má nó ở với ba nó hơn 15 năm rồi mà vẫn không chịu theo đạo, vẫn theo kiểu “đạo ai nấy giữ”. Người không chịu thờ phượng Chúa chỉ gặp hiểm họa trong cuộc sống, bà nội nó chì chiết. Bà đổ thừa nó hư hỏng là do Chúa trừng phạt cái đầu ương ngạnh của má nó. Má nó cãi, “Không có ông Chúa nào bất công, đi trừng phạt kẻ ăn ở lương thiện như con.”

Nghe người này người kia đua nhau khoe con, má nó hay tủi, tự hỏi không biết tại sao lại đẻ phải một đứa bé không giống ai như vậy. Từ cái tên của nó cũng ra cơ sự. Nó tên Dung. Trần Thị Mỹ Dung. Má nó đặt lúc đẻ nó ở nhà thương. Thời kỳ má nó sắp sanh, ba má nó liên tiếp có những cuộc cãi vã, có lúc tưởng đi đến bỏ nhau, nhưng má nó cứ níu kéo. Thế nào chăng nữa má nó cũng không bao giờ nghĩ đến chuyện bỏ ba nó. Những bà bạn chung chỗ làm, không ai có chồng giỏi tiếng Anh như ba nó. Ba nó bấy giờ không muốn có con, nên không thiết gì chuyện đặt tên. Về sau khi những rắc rối xảy ra, ba nó chửi má nó rằng chỉ có thứ ngu dốt mới sống ở một quốc gia nói tiếng Anh mà lại đặt tên con là Dung.

Ngày đầu nó vào lớp một, cô giáo muốn cả lớp làm quen nhau. Mỗi học sinh phải giới thiệu tên mình và con vật mình ưa thích. Thí dụ cô gọi tên John, John sẽ đứng lên nói: “Xin chào mọi người. Tôi tên John, tôi thích con hươu cao cổ.” Đến lượt nó, cô giáo phát âm tên nó thành “Đăng”. Lập tức có tiếng khúc khích cười. Nó vẫn ngồi im. Nó không nhận ra rằng cô gọi nó. Đến chừng cô viết chữ “Dung” thật to lên bảng, một thằng bé người Trung Quốc ngồi sau lưng nó cười phá lên: “Ha ha. Ai tên là “Cứt” ở đây?” Mấy đứa trong lớp rúc rích cười theo. “Tên tôi đọc là Dung. Dung, không phải Đăng,” nó giận dữ nói với cô giáo rồi gục mặt khóc nức nở. Cô giáo vỗ về, xin lỗi nó, rồi giảng cho cả lớp bài học về hành vi lịch sự và tôn trọng mọi người. Cô nói Canada là đất nước của nhiều nền văn hóa khác nhau. Cô cấm không được dùng ngôn từ thiếu văn minh trong lớp. Nhưng trong giờ ra chơi, thằng Tàu lại hét to đằng sau nó, “Ê, nhỏ Cứt! Mày là Cứt chó hay Cứt bò?” Đám trẻ đứng gần nghe thấy lại cười nắc nẻ. Nó không nói không rằng chạy trở vào lớp một loáng rồi phóng ra ngay. Thằng Tàu vẫn đang bô bô cười nói với mấy đứa trẻ bám chung quanh, “ba tao nói ở sở làm của ba tao, có một ông Việt Nam tên Phắc. Ha ha. Tụi bay tin không? Đánh vần là pi, ếch, du, xi (P-H-U-C).  Không đọc là Phắc thì là gì…” Thằng Tàu chưa dứt lời, cây bút chì mũi nhọn như kim đã cắm phập vào một bên má nó. Thằng bé bất ngờ giơ tay che lấy mặt. Con bé đứng chống nạnh, mắt trừng trừng nhìn nó. Thằng Tàu giở tay ra nhìn thấy máu, nó bật lên tiếng rú kinh hoàng. Nhà trường phải đưa thằng bé đi bệnh viện để gắp mẩu chì găm trong thịt ra.

Hôm sau tại cuộc họp ở trường, ngoài ban giám hiệu, cô giáo phụ trách lớp, còn có cả ba má nó và một cô gái đại diện Hội bảo vệ quyền lợi trẻ em. Ba nó bắt nó xin lỗi mọi người. Nó lì lợm đứng im, một lúc nó nói nó không ân hận, nó chỉ tiếc là mũi bút chì không cắm trúng ngay vào cái lưỡi của thằng Tàu. Không ai bênh vực nó. Cô giáo cũng đứng về phía thằng Tàu.  Ông hiệu trưởng bảo nó còn nhỏ nhưng đã bộc lộ bản chất hung bạo, bây giờ nó đã dùng cây bút chì đâm người khác, e rằng lớn lên nữa nó sẽ dùng tới dao tới súng. Điều này thường thấy xảy ra ở trẻ em trong những gia đình mà bố mẹ hay dùng vũ lực với con cái. Ông kết luận. Môi trường gia đình là nhân tố quyết định trong việc hình thành tính cách trẻ em. Cô nhân viên xã hội tiếp lời, đoạn nhắc khéo chuyện ba nó hành hung nó năm rồi. Mọi thứ vẫn còn lưu trữ trong hồ sơ cảnh sát và tòa án. Cô ta nhấn mạnh. Ba nó về nhà chưa nguôi tự ái vì cô nhân viên xã hội trẻ măng có lẽ chưa chồng chưa con lại dám lên lớp dạy dỗ ba nó, lại còn hẹn những cuộc ghé thăm nhà để thảo luận phương pháp giáo dục trẻ. Má nó bàn hay đổi tên Tây cho nó, Lisa hay Kathy chẳng hạn, nhưng nó không chịu. Nó bảo nó muốn giữ tên Dung, và nó sẽ giải thích cho người khác cách phát âm đúng và ý nghĩa của tên nó trong tiếng Việt, rồi nó hăm he nếu ai có thái độ trêu ghẹo tên nó giống như thằng Tàu, nó sẽ quyết không chịu thua.

Khoảng một tháng sau sự kiện đâm cây bút chì vào mặt thằng Tàu, nó lại tham gia vào cuộc ẩu đả với một nhóm con gái da trắng lớp bên cạnh để bênh vực một đứa Ấn Độ bị bắt nạt. Không cần nghe nó phân giải, cô giáo phạt nó ngồi tại lớp trong giờ ra chơi một tuần liền. Trước mặt cả lớp, nó gọi hình phạt của cô giáo với nó là bất công, là kỳ thị. Kết quả nó bị đuổi học ba ngày. Ba má nó lại bị nhà trường mời họp. Không bao lâu mọi người trong trường ấn tượng nó là một đứa trẻ ngỗ ngược khó dạy.        Năm nó vào lớp ba, bà nội bắt ba nó đưa nó vào nhà thờ rửa tội và chuyển nó sang trường đạo. Mỗi chủ nhật, nó còn phải học thêm tiếng Việt. Ngay buổi đầu tiên ở trường Việt Ngữ, nó đã gây rối. Cô giáo quy định sử dụng tiếng Việt một trăm phần trăm trong lớp. Mỗi lần học sinh nào mở miệng nói tiếng Anh phải bỏ 25 xu vào cái hũ thủy tinh cô đặt giữa bàn. Không có tiền thì phải ghi nợ. Lũ trẻ sinh đẻ và lớn lên tại Canada, đứa nào tiếng Việt cũng bặp bẹ. Mới tiết học đầu, nó đã bị bắt năm lần vi phạm nội qui. Nó nổi sùng đợi giờ ra chơi chộp lấy hũ tiền ném luôn vào thùng rác. Cô giáo bắt nó viết kiểm điểm. Nó ngoáy vội vàng mấy chữ tiếng Anh đem nộp. Cô không chịu, bắt nó đem về bảo bố mẹ giúp viết bằng tiếng Việt.

Tới buổi học thứ hai, nó lại sinh chuyện. Cô giáo cho lớp viết chính tả. Cô đọc chữ “dài”, nó đánh dấu huyền thành dấu sắc. Đứa ngồi cạnh nó nhìn thấy, cười ầm lên. Chuyện tức thời lan ra cả lớp. Chúng nó được một phen cười thoả thích. Nó phân bua rằng nó vẫn chưa biết phân biệt dấu, nhưng cô giáo qui kết nó có đầu óc ma quỷ bẩn thỉu, và gửi thư về mời ba má nó họp. Ba nó bực mình rút tên nó ra khỏi trường Việt Ngữ.

Đi nhà thờ Việt Nam nó cũng không thích.  Nó bảo nhà thờ Tây không phải quỳ sưng đầu gối. Ba nó bảo đi nhà thờ Việt Nam để nó có cơ hội thực tập tiếng mẹ đẻ. Mỗi chủ nhật tan lễ xong, linh mục có giờ giáo lý cho thiếu nhi. Bài giảng hôm ấy là về ngày tận thế và sự trừng phạt của Thiên Chúa đối với kẻ tội lỗi. Linh mục bảo khi bị giam vào hỏa ngục, mọi giác quan con người đều bị tra tấn: mắt bao trùm bởi bóng đen, mũi ngạt thở với mùi phóng uế, miệng lưỡi nếm phải các vị thối tha tởm lợm, tai ập đầy tiếng khóc than man rợ của người chung quanh cùng tiếng nhạo báng cợt cười của quỷ dữ, da thịt thì chỗ nào cũng bị châm chích bởi những ngọn lửa vô tận, nóng hơn vạn lần thứ lửa trần gian, và thân xác con người nơi ấy sẽ không bị chết cháy thành tro, nhưng cứ phải ngày đêm chịu đựng sự nung nấu thiêu đốt cho đến đời đời kiếp kiếp. Lúc đó những kẻ tội lỗi mới biết khiếp sợ, và phải giơ tay khóc lóc khẩn nài Thiên Chúa, nhưng Ngài sẽ ngoảnh mặt làm ngơ. Sự ăn năn hối hận lúc ấy đã quá trễ.

Lũ trẻ kinh hãi ngồi nghe, im thít. Một lúc, có đứa hỏi: “Thưa Cha, trẻ con có bị trừng phạt trong địa ngục không, hay chỉ người lớn?” “Tất cả những kẻ tội lỗi không trừ ai,” linh mục đáp. Nó bỗng giơ tay phát biểu: “Thưa Cha, Cha luôn nói rằng tình yêu của Chúa đối với con người rất bao la, không bờ bến, nhất là với trẻ con. Chúa muốn tất cả chúng ta thương yêu nhau như anh em, và phải tha thứ cho nhau. Thế sao Chúa lại nghĩ ra cái cách tra tấn và trả thù con người dã man đến vậy.” Mặc dù bị bất ngờ, linh mục không lộ vẻ lúng túng, “Các con biết điều gì dẫn con người sa xuống địa ngục nhanh nhất không? Thói kiêu ngạo và sự ngờ vực lời Chúa,” linh mục thấp giọng nói với cả lớp, rồi bảo nó ở lại gặp ông sau giờ học. Hôm sau linh mục gặp bà nội nó, ông nhăn nhó bảo, “Cháu gái của bà, ôi lạy Chúa, thật kinh khủng. Linh hồn nó đang lầm lạc.”

Nó không hòa nhập nổi nơi nào. Như một người bị ruồng bỏ, bị cô lập, đi đến đâu nó cũng bị bật ra, lạc lõng. Các phụ huynh không muốn cho con giao du với nó, sợ ảnh hưởng xấu. Cho đến năm nó học lớp mười, việc học của nó chẳng tiến bộ chút nào. Điểm các môn học chỉ trung bình. Điểm đạo đức thì luôn luôn kém.

Sau khi nó bị đuổi khỏi trường đạo chuyển sang trường công, nó lại càng bê bối hơn. Rồi nó bỏ nhà đi đúng vào tuần lễ chuẩn bị vào năm học mới. Má nó mua được hai bông nấm thông loại nhất để dành cho ngày sinh nhật của nó. Ngày một tháng chín. Nhưng nó chẳng được thưởng thức. Nó chẳng bao giờ trở về nữa.

 

  5.

Một ngày giữa thu. Sau những trận mưa tầm tã và những đêm se lạnh tại khu rừng Cranberry thuộc miền tây bắc tỉnh British Columbia. Mùa thu hoạch nấm thông bắt đầu như một kiểu “cơn sốt vàng” hiện đại.

Đã tự bao giờ, cứ khoảng cuối tháng tám mỗi năm, dân chúng thập phương đổ xô tới chen chúc dựng trại cắm lều nơi đây một vài tuần, trước khi sương giá và tuyết tiễn họ tiếp tục cuộc hành trình về phương nam. Người ta mang xô nhựa, gậy gộc, cả súng ống, chó dữ, lặn lội sâu tít trong rừng săn lùng thứ nấm được mệnh danh “Vua của các loài nấm dại”. Ban ngày tìm hái nấm, tối về lán trại có người thu mua đợi sẵn. Phân loại, cân đo, trả tiền mặt tại chỗ. Loại nhất, chỏm còn nguyên chưa mở, lúc đắt ba bốn trăm đô một ký, lúc rẻ cũng phải một hai trăm. Có người kiếm cả ngàn đô một ngày. Những bông nấm được chất cẩn thận gọn gàng vào các thùng nhựa và chuyển về Vancouver ngay trong đêm để kịp thời bay đến Tokyo ngày hôm sau với giá gấp ba gấp bốn lần.

Nấm thông đắt vì nó khan hiếm. Đầu to như quả táo Tây, chân dài cả tấc, lúc mới ngoi lên từ mặt đất nó có màu trắng sữa sau đó trở nên lấm tấm đỏ nâu. Nấm thông chỉ mọc từ những cánh rừng thông từ bốn năm chục tuổi trở lên, và chỉ ở một vài nơi trên trái đất. Không nơi đâu chuộng nấm thông bằng người Nhật, ngặt nỗi cứ mỗi năm, nấm thông trên đất nước họ lại mọc ít đi, vì thế họ sẵn sàng mua với bất cứ giá nào đối với hàng nhập từ Hàn Quốc và Tây Bắc Thái Bình Dương. Người các nước khác cho rằng loại nấm hoang này vừa cứng, vừa dai, mùi lại hăng nồng nhưng với người Nhật từ ngàn xưa nó là một thứ cao lương mỹ vị, đặc sản của mùa thu. Tiếng Nhật gọi nó là matsutake. Nó là biểu tượng cho sự sinh sôi, phì nhiêu, phú quý và hạnh phúc. Người ta còn đồn ăn thứ nấm này hạ được cholesterol, khỏi bị ung thư, lại trì hoãn được dấu hiệu của tuổi già.  Hồi xưa đặc sản này chỉ phổ biến trong tầng lớp quý tộc và tăng lữ, sau mới lan rộng trong giới doanh nhân và công chúng bình dân. Đến nay nó vẫn được dùng như một món quà truyền thống sang trọng ở nước Nhật.

Trong đoàn người tìm hái nấm ở khu rừng Cranberry hôm ấy có một cặp vợ chồng di dân người Lào mới vào nghề. Họ thuật lại bấy giờ đã giữa trưa, di chuyển bao nhiêu cây số trong rừng vẫn chưa tìm ra một bông nấm nào. Đang thất vọng và nản chí thì chị vợ không tin vào mắt mình khi chợt nhìn thấy phía trước, ngay giữa hàng cây thông, một khối trắng to như cái bát úp ló lên từ mặt đất phủ đầy rêu, cát, và vỏ cây. Chị mừng quýnh vừa chạy tới cái vật trắng vừa hú gọi người chồng đang lang thang đâu đó khuất tầm mắt chị. Anh đến nơi lúc chị kêu thất thanh và nhảy lùi xa khỏi cái khối màu trắng chị vừa mới thọc tay moi lên. Không phải là cái đầu nấm to ngoại cỡ như chị tưởng. Nó là cái sọ người! Cái sọ trắng hếu nằm phơi trên mặt đất, hai con ngươi to sâu hoắm, nguyên phần hàm dưới biến mất, chỉ còn hàng răng trên trắng nhởn nhe ra. Chị ôm ngực thở, “Chỗ này có hồn ma. Không phải nơi chốn của mình.” Chị nói và hối chồng quay về lán trại. Ngay khoảnh khắc đó anh bỗng ngửi thấy một cái mùi rất đặc biệt – mùi thơm ngọt dịu của quế và đất ẩm quyện lẫn với mùi hăng nồng nã của thông lan tỏa đâu đây thật gần. Chị run rẩy kêu khẽ chồng khi cả hai bất chợt nhận ra cách đó vài ba thước  rực sáng một mảng bông nấm chỏm còn nguyên chưa mở, nõn nà như tuyết, nhú lên khỏi lớp lá thông dày đặc.  Dưới ánh sáng mặt trời, những bông nấm tròn vây quanh một gốc thông già, lung linh bí hiểm như huyền thoại.

 

6.

Cảnh sát còn tìm thấy một chiếc giầy trắng nhãn hiệu Bitis bê bết bùn khô với hàng chữ “Made in Vietnam” nhòa nhạt bên trong, cùng với mấy mẩu xương vai và đùi rải rác quanh đó. ADN xét nghiệm chứng minh cái sọ và các khúc xương là của nó, Trần Thị Mỹ Dung. Má nó xác nhận chiếc giầy đã mua cho nó trong một chuyến hai má con về Gò Công thăm ông bà ngoại. Một người đàn bà thu mua nấm ở khu rừng Cranberry tường trình rằng bà nhớ nhìn thấy một cô gái Á Đông thấp người, da ngăm đi chung với một người đàn ông da trắng không biết quan hệ với cô như thế nào. Người đàn ông da trắng thì cao nghệu, tóc nâu quăn, có một vết sẹo dài trên má. Lúc đó là tuần đầu tiên của mùa hái nấm ở Cranberry Junction mùa thu năm ngoái. Bà nhớ cô gái ấy vì cô là một trong những người hái được nhiều nấm nhất, và có lần bà tò mò hỏi có phải cô là công nhân hái nấm chuyên nghiệp từ nơi khác đến, cô lắc đầu. Hỏi cô xong ở đây có đi tiếp các điểm khác không, cô gật đầu bảo cô rất thích nhìn thấy ánh sáng mặt trời, thở không khí trong rừng, và thưởng thức những bông nấm thông với mùi thiên đàng của nó. Chừng một tuần thì không thấy cô gái nữa. Gã đàn ông mặt thẹo và căn lều tạm bợ của hai người cũng không thấy nữa.

Có thể gấu grizzly đã ăn thịt nó. Có thể gã đàn ông đi chung đã giết nó để chiếm đoạt tiền. Thú rừng và các loài côn trùng đã ăn hết thi thể nó, không để lại manh mối gì. Không ai biết nó chết như thế nào. Nhưng tình cờ qua chứng cớ ADN, điều người ta ngờ vực bấy lâu chợt rõ ra như dưới ánh sáng của mặt trời: nó thật sự mang dòng máu của ba nó.

Please follow and like us: