Hà Giang lang thang ký-NGUYỄN CHU NHẠC

Hà Giang là mảnh đất địa đầu tổ quốc, với những địa danh nổi tiếng như Cột cờ Lũng Cú, Chợ tình Khâu Vai, Cổng trời Quản Bạ v.v… Với riêng tôi, trong những năm qua, đã cùng các bạn văn chương, đồng nghiệp báo chí VOV trở đi trở lại nhiều lần vùng đất này. Tôi nuôi ý định viết một thiên ký sự nhiều kỳ về vùng đất bí ẩn, đầy hấp dẫn ấy. Năm 2007, tôi đã viết phần đầu ký sự Hà Giang lang thang ký, và sau đó phần viết này được in trong tập bút ký của tôi là Những người thắp lửa ( NXB Văn học, 2008 )

1.

Với mỗi người Việt Nam, ai chẳng muốn được đặt chân tới hai cực nam-bắc của tổ quốc, ấy là Lũng Cú và mũi Cà Mau. Riêng với tôi, mũi Cà Mau thì tôi đã đến từ lúc còn rất trẻ, khi là chàng kỹ sư nông học vác ba lô lên vai rời ghế nhà trường vào đồng bằng sông Cửu Long làm quy hoạch nông nghiệp sau giải phóng niềm Nam dăm năm. Còn Lũng Cú, tận mùa thu nay tôi mới đặt chân đến lần đầu, sau gần hai mươi năm bỏ nghề kỹ sư nông học theo nghề làm báo.
Mùa thu đến muộn, mưa bão liên miên dầm dề từ hè sang. Đường lên thị xã Hà Giang từ ngoại ô Hà Nội đến Vĩnh Yên lũng bũng những nước. Rồi đó, dòng Lô Giang cuồn cuồn nước đục ngầu về xuôi. Nhìn dòng nước, tôi rẩm riu, dòng nước kia chứa đựng trong lòng nó những gì của thiên nhiên và con người ?
Tôi nhanh chóng quên đi cái náo nhiệt sắc màu của ngày hội văn hóa các dân tộc vùng Đông Bắc được tổ chức tại thị xã Hà Giang để vượt dốc đến mấy địa danh vùng cao nổi tiếng của miền cao nguyên đá này. Biết không thể tham song tôi ý thức, chí ít cũng phải đến bốn nơi cần phải đến. Bắt đầu là Cổng Trời Quản Bạ. Ngày xưa đường xá hiểm trở, lên được đến đây hẳn đã cực nhọc lắm rồi, nên người ta mới mệnh danh cho nó là Cổng Trời. Giờ thì đây mới chỉ là cửa ngõ để vào cao nguyên đá khô cằn, hiểm trở và không kém phần bí ẩn. Đường tốt, trên đỉnh cao chót vót là những cột phát sóng, và một trong số đó là cột phát sóng FM của Đài Tiếng nói Việt Nam với nỗ lực mang tiếng nói của Đảng và Chính phủ đến mọi ngóc ngách khuất nấp, hẻo lánh nhất. Chợ Quản Bạ gần đứng trưa mà vẫn đông vui sầm uất lắm, dù mấy chảo thắng cố đã được thực khách xơi hết từ bao giờ. Len lỏi qua dãy hàng ăn thấy vui lây mà đói bụng bởi cái sự náo nhiệt và ngon miệng của bà con dân tộc thiểu số. Chợ phiên Quản Bạ có mấy điểm nhấn nữa, đó là dẫy hàng trang phục rực rỡ sắc màu với đám đông các cô gái ríu ran nói cười thử váy áo; cùng đó là những hàng bán điếu cày và khèn gỗ với màn chào hàng trầm buồn điệu khèn xen lẫn từng tràng tiếng rít nõ điếu cày; và nữa, ấy là từng dãy can nhựa to đầy rượu xếp hàng uốn lượn như bầy rắn khổng lồ giữa chợ. Chúng tôi vào nhà một người quen ở ngay thị trấn Quản Bạ, ấy là anh giáo Tự. Phạm Văn Tự quê Thái Thụy, Thái Bình, lên miền ngược dạy học hơn ba chục năm rồi, lấy vợ người Pù Nhi, hiện là hiệu trưởng Trường THCS Tam Sơn. Anh là cộng tác viên tích cực của Báo Giáo dục & thời đại, còn là một cây bút thơ địa phương. Trong hơi men ngà ngà bữa cơm thân mật tại gia, giáo Tự đọc rất nhiều thơ, phần lớn là nỗi niềm nhà giáo vùng cao, tình yêu trai gái người dân tộc, nỗi nhớ quê hương đồng bằng. Nghe mà da diết buồn. Tôi nhớ được một câu thơ hay của anh trong bài thơ Nỗi niềm cô giáo vùng cao :” Bao lần rồi lại bao lần/ Đá tai mèo cứng dưới chân đá mềm/ Thế mà chẳng mảnh tình riêng/ Có bao cô gái lỡ duyên đất này…“.
Rời Quản Bạ, biết là cố thêm chút nữa là có thể đến được đỉnh Cao Mã Pờ trên độ cao 1999 m sát biên giới Việt Trung, cách huyện lỵ Maliphô của Vân Nam không xa, song đành chịu khất lần sau. Ngược dốc băng qua Yên Minh, đến đất Đồng Văn, đoạn gần Phố Cáo đường dốc cua tay áo lại bị trận lũ năm trước bóc hết mặt trơ đá lởm chởm. Từ đoạn này trở lên, bắt gặp những trung tâm cụm xã song nhà ở còn rất lèo tèo, nghe đâu vì kiểu quy hoạch này không hợp với phong tục bà con người dân tộc nên họ không chịu đến ở. Đường treo leo trên cao thấy thấp thoáng bóng ngôi nhà cổ trong tán cây um tùm long thung lũng Sà Phìn, đó là nhà Vương. Bóng chiều chạng vạng, sương khói mờ ảo, rồi quá mù thành mưa. Chốc chốc lại bặt gặp đôi ba người dân say rượu tan chợ đi vắt sổ dặt dẹo ba bước tiến hai bước lùi trên đường tan chợ về. Kia nữa, một cô gái Mông còn trẻ say rượu nằm ngủ bên vệ đường, đầu gối lên tảng đá, váy áo vẫn xếp nếp che chân, che mặt…
Đêm thị trấn Đồng Văn se lạnh và có gì đó bí ẩn lan tỏa từ phía dãy phố cổ. Sáng hôm sau, chúng tôi đi Mã Pì Lèng trên chiếc xe rất ngon của Huyện uỷ Đồng Văn. Anh lái xe vừa thạo đường vừa hay chuyện. Những câu chuyện đường rừng ngồ ngộ nửa hư nửa thực. Hỏi Mã Pì Lèng có cao không? Chuyện kể rằng, có một đôi vợ chồng người Mông đi nương, chẳng may người vợ đánh rơi chiếc gàu sắt múc nước xuống sườn núi phía sông Nho Quế. Chiếc gàu rơi mãi cho đến tận sáng hôm sau mới rơi được nửa chừng. Hơn chục cây số đèo dốc treo leo với những cua tay áo, chúng tôi đến được đỉnh Mã Pì Lèng trên đất Mèo Vạc. Tấm bia đá ghi rõ : “ Nhân dân vùng núi tiến kịp vùng xuôi, Trung ương Đảng khi về Việt Bắc quyết định mở đường Hà Giang, Đồng Văn, Mèo Vạc. Khởi công ngày 10-9-1959. Ngày hoàn thành 10-9-1965. Thành phần mở đường gồm 16 dân tộc Cao Bắc Lạng, Hà Tuyên Thái, Nam định,Hải dương. Riêng dốc Mã-pì-lèng công nhân đã treo mình 11 tháng để mở đường “. Đứng từ đây phóng tầm mắt, sông Nho Quế mảnh như một sợi chỉ bạc uốn lượn trong sương núi huyền ảo. Tôi biết đến địa danh này qua thơ của Xuân Diệu và hối ký văn học Cát bụi chân ai của Tô Hoài. Trong thơ Xuân Diệu, Mã Pì Lèng đầy khí thế, còn qua hồi ký Tô Hoài lại có gì đó u uẩn. Núi hay người ? Người là núi và núi cũng là người chăng ?!…
Nhà Vương ở thung lũng Sà Phìn, xã Lũng Phìn, trên độ cao 1600m. Nhìn gần đồ sộ uy nghi kiểu dinh thự, khác hẳn với góc nhìn từ trên đường núi cao vì khi ấy có vẻ hơn như một khu chùa cổ. Tuy đã được Bộ Văn hóa công nhận là di tích kiến trúc nghệ thuật cấp quốc gia vào năm 1993, song chưa được khai thác với mục đích du lịch vì bên trong còn những 6 gia đình con cháu ông Vương Chí Sình sinh sống. Nay huyện mới trưng dụng cấp nhà cho họ ra bên ngoài ở, nhằm bảo vệ di tích theo tinh thần Luật Di sản, và chuẩn bị khai thác vào mục đích du lịch. Anh cán bộ Phó Văn phòng huyện ủy phải vào Trường Tiểu học Lũng Phìn xin phép nhà trường cho cháu Vương thị Giàng, học sinh lớp 4, cháu 4 đời của ông Vương Chí Sình, nghỉ tiết học thể dục mở khóa cửa khu nhà cho chúng tôi vào tham quan. Theo bản thuyết minh của huyện, thì khu nhà này được bang tá Vương Chính Đức (cha ông Vương Chí Sình), người một thời từng được mệnh danh là Vua Mèo, cho xây dựng và khánh thành vào năm Khải Định thứ tám ( 1923 ). Khu nhà có cả thảy 64 phòng với chiều sâu 56m, bề rộng 22m và chiều cao từ 10 đến 12m, theo lối kiến trúc Trung Hoa đời Thanh kết hợp với phong cách bản địa, do các thợ giỏi từ Vân Nam, Quảng Tây cung hàng ngàn dân phu kiến tạo , tốn một khoản tiền lớn tới 15 vạn đồng bạc trắng (1 đồng bạc trắng tương đương 50 kg ngô thời đó). Khu nhà chính tổ hợp hình chữ Mục ( mắt ), kết cấu chiều sâu gồm Tiền dinh-Trung dinh-Hậu dinh, nó vững chắc như một lâu đài cổ châu Âu bởi tường xây đá xanh, nhất là tường bao kiên cố (cao 2m, độ dày 0,65m, cứ cách 6m có 1 lỗ châu mai), cùng 2 lô cốt-pháo đài phòng thủ và hệ thống hầm ngầm. Tha thẩn trong khu nhà, riêng tôi rất thích thú với những bình phong, câu đối chữ Nho. Qua cổng vào, chính tiền dinh là đôi câu đối :” Gia tích thiện hiền nhân xuất nhập/ Môn phong lưu quý khách vãng lai ” ( dịch nghĩa là : Nhà tích thiện người hiền ra vào/ Cửa phong lưu quý khách tới thăm ). Bức đại tự 4 chữ lớn Biên chính khả phong ( nghĩa là: Chính quyền ở biên cương này mạnh ) v.v… Tất cả những thứ đó thể hiện sự vàng son một thời của dòng họ này trên cao nguyên Đồng Văn. Vương Chính Đức nguyên chỉ là một người làm công của Thổ ty Hoàng Tự Bình, song ông là người có chí, lại có uy tín rất cao trong vùng, nên được người Pháp đưa lên làm Chánh tổng, rồi đến đầu thế kỷ 20 được cho làm bang tá, cai quản cao nguyên Đồng Văn. Khi con trai ông, Vương Chí Sình ( còn gọi là Vương Chí Thành ) nối nghiệp cha, đã giác ngộ cách mạng, đi theo Cụ Hồ, góp phần gìn giữ một khu vực biên cương hiểm trở của tổ quốc. Ông trở thành đại biểu Quốc hội nước Việt Nam dân chủ cộng hòa khóa I, II, từng là chủ tịch Ủy ban hành chính huyện Đồng Văn, được tặng thưởng Huân chương kháng chiến chống Pháp hạng nhất, đồng thời được Hồ Chủ tịch tặng đôi liễn Bất thụ nô lệ- Tận trung báo quốc ( nghĩa là : Không chịu nô lệ/ Dốc lòng vì nước ).
Rồi đây khách tham quan sẽ ra vào khu nhà này, và nó sẽ là nhân chứng về những biến động của những con người và cả vùng đất này của một thời, là bằng chứng về xu thế tất yếu không gì cản nổi của cách mạng dân tộc, về sự bình yên và thiêng liêng của toàn vẹn lãnh thổ !…
Đường lên Lũng Cú trùng trùng núi, vẫn còn những nương ngô cằn cỗi vàng xỉn trên dải đá xanh lởm chởm, nhưng xem ra đất ở đây có vẻ màu mỡ hơn. Đồn biên phòng Lũng Cú rất nên thơ trong lùm xanh cây cối hoa lá, điều này chứng tỏ sự chăm chút của anh em chiến sĩ nơi đây ngoài nhiệm vụ chính canh giữ bình yên vùng biên cương hiểm trở của tổ quốc. Phó đồn trưởng Mạc Hà Túy đưa chúng tôi đến thăm Trạm biên phòng Lũng Cú rồi trèo lên đỉnh cao chân cột cờ Lũng Cú. Từ đỉnh này nhìn xuống, hai bên chân núi là hai hồ nước. Thì ra, đấy là hai mắt rồng, lý giải cái tên Lũng Cú là cách gọi chệch âm Hán của cụm từ mắt rồng mà thành. Lấm chấm những nóc nhà người dân tộc Lô Lô, một bản của Việt Nam. Song câu chuyện của chúng tôi nơi đỉnh cao chóp nhọn tổ quốc lại về người chiến sĩ quân y Trần Minh Tuấn của Trạm biên phòng Lũng Cú. Người mà tất thảy bà con dân tộc thiểu số vùng đất mũi nhọn này đều gọi một cách thân mật Bác sĩ Tuấn. Anh không quản ngại, nề hà chữa chạy bệnh tật cho bà con, còn bày cho mọi nhà cách ăn ở sạch sẽ, dạy cho các cháu chữ nghĩa, điều hay lẽ phải. Cuộc sống nơi đây là thế, cái hay cái tốt của đường lối, chính sách lớn lao thường lại thông qua những chi tiết cụ thể, qua hành vi ứng xử của một con người…
Đường về, chúng tôi tạt qua Phố Bảng. Cái thị trấn biên giới vang bóng một thời từ đầu thế kỷ 20 với tư cách là huyện lỵ Đồng Văn, không còn sự sầm uất xưa, song ở đó vẫn phảng phất bóng dáng vương giả cũ, lại xen chút u hoài qua dãy phố cổ người Hoa và nền móng nhà Vương ( nhà Vương thứ hai, nơi Vương Chí Sình ở khi giữ chức chủ tịch UB hành chính Đồng Văn ), nền phố xá ngày trước…
Quanh quanh đường núi chênh vênh, kìa bên rìa mép đá, hai đứa trẻ người Mông, con chị chừng dăm tuổi, thằng cu em mới độ chập chững đi, chúng ngồi vắt vẻo, chắc chờ cha mẹ, hút dưới chân là vực thẳm sâu đến ba bốn chục thước. Mọi người ồ lên ái ngại. Nhưng đâu có phải là lần đầu thấy, tôi đã nhiều lần thấy đó đây trên các nẻo đường rẻo cao Tây Bắc, Việt Bắc. Song cảm nhận, có gì mong manh quá. Sự mong manh dễ đổ vỡ còn thấy ở thân phận con người dày nỗi nhọc nhằn. Đó là thân phận những cô giáo cắm bản, những cô gái người dân tộc còng lưng vừa gùi vừa xe sợi gai, thân phận những tráng niên say rượu dặt dẹo cuối buổi chợ phiên như bị đè nặng bởi dãy dãy can rượu ăm ắp. Nhớ đến câu nói vui của cánh nhà báo, rằng bà con nơi đây rượu nhiều như nước sông Lô mà lòng se lại. Cuộc sống của bà con dân tộc thiểu số trên vùng cao nguyên đá này khá khẩm lên nhiều lắm. Nhưng chao ơi, cũng còn quá nhiều việc phải lo nghĩ, phải làm !…

( còn nữa )

 

Please follow and like us: