Tiếng chim từ qui-PHONG DANG

Trang trí cho đất lề quê thói,
Đất võ Bình Định có lắm kì nhân dị tích. Bên cạnh các thiên bút tích kí sự ” trời văn ” của tiền nhân thì đã rõ, trong dân gian cũng lắm câu văn bài vè câu hát mang bao điều ước lệ, cũng như moi lãnh vực khác bao giờ cũng có tính cách sàng lọc bỡi thời gian, còn lại đến hiện tại những gì là phần tinh túy. Tỷ như câu ca dao được đánh giá về phẩm lẫn chất nói về thân trai gầy dựng cơ đồ, tranh đoạt thiên hạ luôn phải nhận sự khó nhọc và lấy khố nhọc nung đúc chí hướng :
Lao xao sóng vỗ ngọn tùng
Gian nan là phận anh hùng phải vay.
Vợ chồng ăn ở phải có tình yêu có nhân ngãi nhất là tín cẩn với nhau là mực thước xưa nay :
+ Thầy tớ trả công ơn
Vợ chồng câu nhân nghĩa
Hoặc thủy chung không pha trộn nạ dòng :
+ Cây mù mu trái cũng mù u
Vợ chồng đánh lộn,con cu giải hòa !
Riêng có một bài hát ca dao ở huyện Bình Khê xưa, nay là huyện Tây sơn,  vẫn còn truyền tụng.
Đó là bài hát ca dao ” cái gùi nhân nghĩa”, có nhiều dị bản :
Khoai lang Đồng Phó
Đậu phộng Hà Nhung
Chàng bòn, thiếp mót, đổ chung một gùi
Chẳng qua duyên nợ sụt sùi
Chàng giận, chàng đá cái gùi lăn đi
Chim kêu dưới suối Từ Bi
Nghĩa nhân còn bỏ, huống chi cái gùi!
Theo Nước Non Bình Định của Quách Tấn thì câu ca là biểu tượng mối bất hòa của đại tướng Tây Sơn Võ Văn Dũng với các sắc tộc thiểu số quanh vùng. Tương truyền sau khi bị bắt cùng vợ chồng Trần Quang Diệu, Bùi Thị Xuân ở Nghệ An, Võ Văn Dũng đã trốn thoát được, về quê hương, đem hai con của Nguyễn Nhạc là Văn Đức, Văn Lương và cháu là Văn Đẩu lẩn tránh trên vùng núi Đồng Phó, Vĩnh Thạnh, tại các làng người thiểu số trước từng hợp tác với nhà Tây Sơn. Quan hệ giữa họ với Võ Công sau không còn gắn bó nữa. Năm Minh Mạng thứ 12 – 1831, chú cháu Văn Đức bị bắt đem về Phú Xuân hành quyết, còn trơ trọi một mình, Võ Công lang thang như mây ngàn, rày đây mai đó khắp vùng thượng nguồn sông Côn…
Dị bản :
Củ lang Đồng Phó, đậu phộng Hà Nừng
Chồng bòn vợ mót để chung một gùi
Chẳng may duyên nợ sụt sùi
Chồng giận chồng đá cái gùi lăn quay
Chim kêu hai ngả từ qui
Nghĩa nhân còn bỏ huống chi cái gùi !
Dị bản nói lên điêù gì ?
Dị biệt :
Có thể đưa ra đây hai dị biệt
+Một là tên địa danh con suối Từ Bi !
Có hay không tên con suối Từ Bi ở
huyện Bình Khê xưa, nay không tìm ra con suối đó nằm
ở đâu ?
Tương truyền.
Suối này có mọc nhiều cây cúc tần còn gọi cây từ bi. Cây cúc tần lá hình lông chim
mọc đối không có cuống, rìa lá răng cưa, màu xanh lá mạ mặt dưới lá màu bạc. Cây mọc hoang hoặc trồng làm hàng rào, toàn cây có mùi long não có công dụng làm thuốc, vào tiết đông cây rụng lá. Cây cúc tần thường nhầm lẫn với cây ngũ trảo. Cây ngũ trảo ( 5 móng tay ) mọc hoang phổ biến khắp bãi sông bờ suối gò đồi. Lá có cuống màu xanh da trời, khuyết thành năm thùy như bàn tay xòe,  mặt dưới có màu bạc, có mùi hôi long não, dân gian bẻ nhánh lá trộn với trấu lúa hun khói muỗi trâu heo bò vào những chiều tối tháng tám mưa ngoi, muỗi đàn muỗi đám cắn rát da như kim chích !
+Hai là, tiếng kêu của môt loài chim rừng có tên gọi là chim từ qui ?
Có một giống chim rừng, ăn sâu bọ. Sống ghép thành từng cặp đôi trống mái, kiếm ăn về đêm trong bãi rừng vắng vẻ. Chúng chia đôi ngả rừng mỗi con ở mỗi phía, bay chuyền len lõi trên các cành buội cây tìm ăn sâu trong kẽ lá, miệng luôn kêu gọi nhau. Con bên này kêu ù thì lập tức con bên kia kêu ui và cứ kêu nhau như vậy đến khi thấy mặt nhau là liền bay ra đôi ngả, xong lại nghe kêu ù…ui. Tiếng kêu nghe não ruột, buồn miên man, các cụ cao niên ở Bình Định nói đó là chim ” từ qui “, là hiện thân giống Ma Hời !
Thiệt hư về chuyện này, có lưu truyền rằng, xưa có đôi vợ chồng Việt- Chăm, chồng Việt lấy vợ Chăm yêu thương nhau rất mực nhưng rồi vì hoàn cảnh( *) phải ly tan, chồng vợ chia lìa trong cực kì bi đát cho đến chết…rồi hóa thân ra đôi chim lẫn trốn tìm nhau trong đêm tối!
Đây là chuyện tâm linh thuộc dân gian truyền khẩu . Nghi hoặc như tiếng chim cuốc kêu quốc quốc, tu oa … Mà văn chương đã mượn tiếng chim để nói lên tâm trạng của hồn Thục Đế vọng cố hương !
Chim ” từ qui ” là có thật, ở rải rác khắp rừng núi Bình Định. Ngày nay ai đi qua vùng núi đèo Cù Mông vào chặng rừng vắng vẻ vào buổi chiều tối có thể nghe chim ấy kêu. Từ qui là tiếng tá âm tiếng ù ui, mang nghĩa : đi- về ! các cụ xưa giải như vậy, cũng như cách giải thích tên chim từ qui ?
Trong văn thơ :
Đây, những cảnh ngàn sâu cây lả ngọn
Muôn Ma Hời sờ soạng dắt nhau đi
Những rừng thẳm bóng chiều lan hỗn độn
Lừng hương đưa, rộn rã tiếng từ qui!
Trên đường về, Chế Lan Viên)
Đôi ta như chim từ qui
Ngày thì chộ mặt, đêm đi kêu sầu
Thỉnh thoảng bên nhau, mỗi con mỗi núi
Kêu từ chặp tối cho tới canh khuya
Sầu này biết để ai chia?
(Ca dao mẹ )
Lòng ta vẫn ở trên Tây Bắc
Những đêm thao thức tiếng từ quy
(Nguyễn Đình Thi và Tiếng chim từ qui )
Như vậy tiếng chim từ qui cùng tiếng cuốc kêu đã mặc nhiên đi vào văn hóa qua ngôn ngữ thi ca. Tiếng cuốc kêu linh động lồng vào mỗi đêm hè , gợi lên bao nỗi thao thức cùng cố hương. Cũng vậy, tiếng từ qui lại làm đau lòng lữ khách hận vì cuộc biệt ly :
Băn khoăn nhớ cảnh nhớ người
Nhớ hôm tiễn biệt, nhớ lời từ qui !
Nhớ người thôi,chẳng nhớ lời
Lắm bôn ba, lắm bồi hôi đấy sao ?
*//* ( Lượm lặt )
Chú thích :
(*) Hoàn cảnh : Thật sự dân Chăm Pa mất nước và hoàn toàn bị đồng hóa chính thức có sắc dụ của vua Minh Mạng vào năm 1832. Thủ phủ Phan Thiết là mảnh đất cuối cùng của tộc Hời, qua bao lần nổi dậy đánh phá quyết liệt với quan quân triều nhà Nguyễn . Chính vua Minh Mạng truất quyền  tự trị của dân Hời bằng chỉ dụ, và cùng với chiếu chỉ cấm quần không đáy ( váy ) lấy lý do thống nhất trang phục hai miền, phụ nữ đàng ngoài phải mặc quần hai ống như phụ nữ đàng trong, cố ý loại bỏ cái quần một ống của Trung Hoa, cắt đứt lan chạ văn hóa Tàu. Sắc dụ này làm ảnh hưởng không ít đến váy Chăm, và sau này lại cấm hôn nhân Việt -Chăm nhằm giữ nề nếp Việt !? Nay còn lưu truyền bài hát ca dao đầy ta thán và hài hước :
Tháng tư có chiếu vua ra
Cấm quần không đáy, người ta kinh hồn !
Không đi thì chợ không đông
Có đi thì mượn quần chồng, sao đang ?
Và quí bà mẹ dân Bình Khê,Tuy Phước nay ai đẩy võng đưa con ngủ mà không hát câu hát ru cửa miệng :
Hời ơi, hời hời…
Một mai ai chớ bỏ ai
Chỉ thêu nên gấm, sắt mài nên kim.
Bình Định từ khi mang tên phủ Hoài Nhơn và đèo Cù Mông có đồn biên ải từ năm 1471 vua Lê Thánh Tông thân chinh phá thành Chà Bàn (Vijaya) . Chiêm Việt đề huề sống xen cư hôn phối suốt 140 năm . Đến năm 1611 chúa Tiên Nguyễn Hoàng lệnh quân dân vượt đèo Cù Mông cho công cuộc Nam tiến …Từ ấy biết bao khổ lụy chia lìa chồng vợ, chồng mất vợ vợ mất chồng :
Mất chồng như nẫu mất trâu
Chạy lên chạy xuống, cái đầu chơm bơm !
Hoàn cảnh là vậy !
*//* ( Lượm lặt )
Hình minh họa : Cây ngũ trảo ra hoa
Please follow and like us: