Lão Tự-MC AMMOND NGUYỄN THỊ TƯ

 

Người đàn ông nằm đó, cất tiếng rên to hơn khi tôi lại gần. Ngay dưới khoé miệng bên trái, một cái nốt ruồi to như hạt đậu đen với sợi lông bướng bỉnh mọc chìa ra. Tôi nhìn sững gương mặt già cỗi, dúm dó, đang nhăn nhó vì đau đớn của ông ta, không tin vào mắt mình nữa. Lẽ nào…
Chuyện xảy ra đã gần bốn thập kỷ. Cuộc đời tôi trôi dạt bao chốn khác nhau, mỗi ngày mỗi xa tít tắp cái làng quê bé nghèo thuở ấu thơ.  Thế nhưng trái tim tôi vẫn thổn thức mỗi khi nhớ lại chuyện ấy.
Bấy giờ tôi là một cậu bé bảy, tám tuổi. Sống ở làng Hậu. Bố tôi mất lúc tôi mới lên hai. Anh trai đi bộ đội. Chị gái đi học cấp ba mãi trên huyện. Ở nhà chỉ có mẹ tôi và tôi, sau này thêm Ki Ki. Ki Ki là do mẹ tôi lặn lội lên quê chồng ở một hẻm núi xa thẳm gọi là làng Gôi, chú Độ cho mang về. Lúc đó Ki Ki được hai tuổi rưỡi, Chú bảo: “Nhà chị đơn chiếc. Nuôi lấy con chó trước để trông nhà, sau được miếng thịt cải thiện.”
Ðó là con chó cái, cao hơn đầu gối tôi. Nhưng khi nó đứng chồm lên với hai chân trước vịn vào vai tôi thì nó có thể liếm mặt tôi một cách dễ dàng. Thoạt nhìn nó hơi xấu xí. Ðầu, tai, mũi, và lưng đen thui. Mặt, bụng và bốn chân thì màu trắng. Chung quanh cái mõm lấm tấm những đốm nâu như tàn nhang. Lông mọc dài lởm chởm. Ðuôi thì như bị ai cắt bớt, còn có một mẩu ngắn độ nửa gang tay tôi. Với hai cái khoang màu vàng nâu trên trán, nhìn nó giống như bốn mắt. Mải sau này đi xa tình cờ học hỏi thêm tôi mới biết nó thuộc giống Border Collie từ nước Anh. Những ngày mới về nhà tôi, mặt nó ủ dột như bị bệnh. Bát cháo mẹ tôi nấu với dúm gạo mới thơm lừng nó cũng không thiết. Mẹ tôi bảo nó nhớ mẹ nó và chị nó ở làng Gôi.  Tôi thấy tội nghiệp nó khi mẹ tôi nói từ làng Hậu tôi đang ở đi đến làng Gôi mất hơn ngày đường. Phải đi qua bến đò Sành. Vượt khỏi đò Sành mới đến làng Chanh. Rồi từ làng Chanh phải đi bộ thêm một đoạn đường xa lắc nữa mới đến hẻm núi dẫn vào làng Gôi. Vậy là cái ý nghĩ dẫn nó đi thăm mẹ nó và chị nó tiêu tan trong đầu tôi. Tôi nghe nói mẹ Ki Ki đẻ bốn đứa. Bố của chúng là giống chó gầy từ những con chó thời Pháp thuộc nên rất hiếm và quý. Chú Độ bán đi một, giữ nuôi hai – Ki Ki và chị nó, còn một con đem biếu ông trưởng công an huyện. Ki Ki ở với mẹ và chị trong nhà chú Ðộ từ lúc nó mới sinh. Ở nhà chú Ðộ, nó tên Quý, về nhà tôi, tôi đọc trại ra Ki, rồi gọi tới gọi lui thế nào trở thành Ki Ki luôn.
Mới được hơn một tuần, Ki Ki đã thành bạn thân của tôi. Tôi thích lắm, vì lâu nay ở nhà chỉ thẳm thủi mỗi mình. Từ ngày có Ki Ki, tôi đi học về là nó ra sân đón, lúc lắc cái đuôi ngắn chủn, rồi nhảy lên đu lấy người tôi. Thế là tôi vứt cặp sách qua một bên rồi sà xuống giỡn với nó. Mẹ tôi bảo: “Coi chừng. Chơi với chó, chó liếm mặt”.
Hễ nghe Ki Ki sủa, ở nhà biết  là có người lạ xuất hiện. Không bao giờ nó sủa người quen. Ki Ki khôn như người. Lắm lúc tôi ngờ ngợ nó hiểu được tiếng người, vì tôi chẳng phải tốn nhiều công sức dạy nó làm trò. Những lần bị mẹ chửi hoặc đánh đòn, tôi hay tủi thân ngồi ở xó nhà, Ki Ki lại đến ngồi bên cạnh vẻ như cảm thông. Nó làm tôi không muốn rời nó. Tối đến tôi lót rơm cho nó ngủ cạnh tôi. Mẹ tôi không chịu, bảo: “Mày có thấy chó nằm với người bao giờ?” Nhưng thấy tôi và Ki Ki quấn quít với nhau quá, bà đành lờ đi. Trừ khi đến trường, đi đâu tôi cũng dắt Ki Ki theo. Tôi nhớ lúc ấy là vào tháng mười, lúa bắt đầu trổ vàng trên các cánh đồng. Tôi cho Ki Ki theo tôi hết đồng Ngang tới đồng Dọc tìm bắt chuột chặt lấy đuôi nộp cho cô giáo. Chính nhờ nó mà tên tôi có trong danh sách những “dũng sĩ diệt chuột” của trường vì có nhiều đuôi chuột nhất. Bấy giờ tôi học buổi sáng, buổi chiều chăn con bò Cóc. Con bò nhà tôi bé xác nhưng có cái bụng nẩng tròn như con cóc nên tôi gọi nó cái tên như vậy. Ki Ki chiều nào cũng theo tôi và con bò Cóc ra đồng.  Nhiều khi tôi mải chơi đánh khăng đánh đáo với đám trẻ trâu, nó giúp tôi coi chừng con bò Cóc. Hễ bò Cóc gặm lúa ngô hay động chạm vườn tược nhà ai, nó bắt chước tôi, đuổi con bò đi chỗ khác. Một lần bò Cóc quay mặt lại chống đối, nó táp luôn vào mũi con bò một phát để lại cả dấu răng.
Thoạt đầu thấy tôi và Ki Ki đi đâu cũng có nhau, nhiều người trong làng chướng mắt. Ông Thủ phó chủ nhiệm hợp tác xã ở cách nhà tôi mấy căn, bảo: “Mới nứt mắt đã bắt chước bọn tư sản bày đặt dạo chơi với chó.” Mẹ tôi chột dạ, sợ ông Thủ đánh giá gia đình tôi về mặt tư tưởng chính trị rồi báo cáo lên Ðảng ủy, bảo tôi để Ki Ki ở nhà. Nhưng tôi cứ lén mang theo. Ki Ki tự lúc nào trở thành niềm tự hào của tôi. Tôi biết cả xóm ganh tị vì nhà tôi có con chó khôn nhất. Nó tung tăng theo tôi khắp các ngõ ngách trong xóm, làm trò cho mọi người coi. Dần dần người lớn trẻ con đều thích nó. Cả bà vợ ông Thủ. Gặp nó là bà dừng lại yêu cầu nó diễn trò.
Làm sao tôi quên những buổi chiều tôi và đám bạn cả con trai con gái đi nhặt bông gạo. Tháng ba hoa gạo rụng đỏ ối trên khắp đường làng quê tôi. Tôi vẫn nhớ như in cây gạo cổ thụ cao lớn sừng sững đầu xóm. Lũ chúng tôi thường vây quanh gốc cây, tranh nhau bắt lấy những bông hoa gạo đỏ rơi xoay tròn xuống từ trên độ cao hằng mấy chục mét. Ki Ki tham gia trò chơi hết mình. Nó cũng tranh phần với chúng tôi, phóng lên há miệng đón lấy hết bông hoa này đến bông hoa khác, rồi nhè ra đất. Tôi ra lệnh cho nó đưa bông cho từng đứa trong nhóm. Tất cả đều kinh ngạc vì nó nhớ hầu hết tên đám bạn tôi. Chúng tôi đùa giỡn với Ki Ki không biết mệt. Bọn con gái lấy một mớ bông kết thành vòng đeo vào cổ cho nó. Còn lại chúng tôi đem cho ông từ giữ ngôi chùa của xóm để ông phơi làm thuốc. Ông bảo bông hoa gạo đốt thành than có tác dụng giải độc, chữa được các vết thương chảy máu hoặc băng huyết.
Ki Ki ở nhà tôi được hơn một năm thì trong làng xảy ra dịch chó dại. Một ông cụ và một đứa bé gái trong làng bị chó dại cắn chết. Chính quyền địa phương ra thông báo cấm nuôi chó trong nhà. Gia đình nào có chó phải tìm cách giải quyết. Hoặc là giết thịt, hoặc là đưa đi vùng khác.
Mẹ tôi chẳng biết tính sao. Giết lấy thịt ăn thì không đời nào bà nghĩ tới. Con chó thời đó với gia đình tôi là cả một gia tài. Từ bé tôi đã chứng kiến sự thiếu hụt trong nhà. Những lần bác Xuyến chị của ba tôi đến dằn dỗi đòi nợ, mẹ tôi nước mắt lưng tròng khất lần khất hồi. Lúc ấy tôi cũng biết là mẹ tôi phải vay thóc để nuôi tôi và đóng tiền nhà trọ cho chị tôi đi học trên huyện. Mẹ tôi bảo nếu làm con chó ra, nhà cũng chỉ giữ được một phần để ăn, còn lại phải đem biếu anh em lối xóm. Chỉ có người giàu trên phố mới có tiền ăn thịt chó. “Không, không được giết Ki Ki,” tôi gào tướng lên dù mẹ tôi không có ý định giết nó. Hôm sau đi làm ngoài đồng về, mẹ tôi nói rằng bà đã tính ra nếu bán Ki Ki sẽ trả được bảy tháng tiền trọ học cho chị tôi. “Này nhé,” mẹ tôi bảo, “Con chó giá chót cũng phải được ba mươi lăm đồng. Chị Thục mày trọ năm đồng một tháng. Năm bảy ba lăm. Nếu được hơn, mẹ sẽ cho mày hai hào cắt tóc.”  Tôi lắc đầu nguầy nguậy: “Không bán Ki Ki”. Mẹ tôi lừ mắt: “Không giết thịt, cũng không đem bán thì làm gì nào?” Tôi bảo: “Giấu. Chẳng ai biết được.” Mẹ tôi cười: “Cha bố mày!” Bà không nói gì nữa, lặng lẽ ra sau bếp nấu cơm.
Mấy ngày sau đó tôi thấy trong làng xuất hiện một người đàn ông đi chiếc xe đạp cũ có gắn cái lồng sắt đã vẹo vọ đằng sau ba-ga. Trẻ con chúng tôi gọi ông ta là “lão Tự chó”. Lão ở bên làng Chay, một xóm đạo cận bên làng Hậu tôi. Nghe nói lão buôn chó ở khắp các vùng lân cận đem lên huyện bán. Trong trí nhớ tôi, lão xấp xỉ 40. Người to béo. Tóc xoăn. Mặt đỏ. Nốt ruồi to bằng hạt đỗ đen với sợi lông mọc chìa ra nằm ngay dưới khoé miệng bên trái. Ðể ý thì thấy dây tràng hạt đen với cây thánh giá bạc lấp ló đằng sau cái cổ áo cáu ghét của lão. Ðến gần là nghe nặc nồng mùi rượu lẫn với cái mùi khen khét do lâu ngày không tắm từ người lão. Vì dịch chó dại nên lão tha hồ ép giá. Mọi người ức, nhưng phải chịu. Ngày nào lão cũng mua được vài ba con chó trong xóm tôi.  Sau một tuần lễ có lệnh cấm nuôi chó, chiều đến thường có một nhóm du kích trên xã xuống kiểm tra. Tôi dẫn Ki Ki ra sau nhà trốn, bảo: “Nằm im ở đây nghe chưa? Họ mà nhìn thấy là mày chết.” Nó nằm im thít.
Nó biết. Từ đó, hễ thấy bóng mấy người mang súng ống xuất hiện ở đầu xóm, nó ngoan ngoãn theo tôi ra vườn dong sau nhà.
Một tuần nữa trôi qua. Không thấy du kích xã xuất hiện nữa. Nhà tôi đã không bị khám. Và tôi biết chắc vẫn còn những con chó được giấu trong làng. Nhưng mẹ tôi không muốn nấn ná nữa. Bà sợ hàng xóm lỡ có ai xấu miệng đi báo cáo. “Mình thân cô thế cô. Chẳng xoay sở được. Không khéo lộ ra, mất chó lại còn bị đóng phạt. Tốt nhất là chấp hành chính sách nhà nước.” Mẹ tôi nói, rồi quyết định bán Ki Ki. Tôi khóc. Chẳng ăn thua gì. Mẹ tôi còn bảo: “Làm thế người ta cười cho. Có ai bán chó được tiền mà lại khóc bao giờ.”
Hôm lão Tự vừa dắt xe đạp đến ngõ nhà tôi, Ki Ki chạy ra sân sủa om lên. Ðiệu bộ nó trông thật dữ tợn. Lão Tự có vẻ gờm, cứ hề hề cười nhưng không dám bước tới.  Tôi mặc kệ. Mẹ tôi đon đả ra đón lão vào. Tôi bồn chồn đứng ngay cửa buồng dỏng tai nghe hai người nói chuyện ở bàn ngoài. Ngồi nhấp nháp chén trà mẹ tôi rót mời, lão Tự oang oang hỏi han tình cảnh gia đình tôi. Nghe bố tôi đã mất, ông chép miệng: “Thế thì chị nhà vất vả quá. Chị còn trẻ. Cháu lại bé quá, chưa nhờ được gì”. Ông nói rồi đánh mắt nhìn tôi đang đứng gần đó, cười hề hề. “Này, trẻ con không được đứng hóng chuyện người lớn, nghe chưa?” Mẹ tôi nóng ruột hỏi lão định giá Ki Ki thế nào. Lão quay sang than thở chó lúc này khó bán, rồi chê là Ki Ki giống như mấy con chó kiểng, chỉ dài thuỗn chứ không nặng thịt. Xong lão ầm ừ:
“Hai mươi lăm đồng.”
Vẻ mặt mẹ tôi lúc ấy thật thảm hại. Giọng bà mềm đi:
“Bác nói thế nào chứ, sao lại có ngần ấy?”
“Nói thật, nhìn con chó này tôi cũng không muốn mua đâu. Nhưng chả nhẽ đã vào đến đây rồi lại ra không. Chị thì muốn bán…”
Tôi nghe lão Tự buông giọng đẩy đưa, và liếc nhìn gương mặt lo âu căng thẳng của mẹ tôi. Mắt tôi bỗng dưng cay xè. Tôi lủi ngay vào bên trong buồng. Tiếng lão Tự vẫn oang oang: “Ấy là tôi đã mua đắt lên cho chị mấy đồng rồi đấy. Cảnh mẹ góa con côi, tôi không ép đâu”.
Ðến lúc này thì những giọt nước mắt nóng hổi thi nhau lăn trên mặt tôi. Tôi đứng nép vào vách buồng, cố không bật ra tiếng khóc đang nghẹn ngào trong cổ.
“Bác làm ơn xem lại cho cháu nhờ.” Mẹ tôi hạ giọng vừa năn nỉ vừa phân bua. “Ba mươi lăm cũng là còn rẻ. Con chó Vàng nhà bà Rụi bé hơn con này mà hôm nọ bác đã mua cho hai mươi chín đồng.”
Lão Tự lại cười hề hề. Tôi nhìn qua khe vách, thấy cặp mắt lão nhìn mẹ tôi chằm chằm:
“Ấy, bà chị làm sao biết bằng tôi. Con Vàng bà Rụi bé hơn nhưng chắc thịt hơn nhiều. Nó là loại… thịt thơm hơn, người ta chuộng hơn. Cũng như người vậy đó, nhìn phải mát da mát thịt như chị…” Lão bất ngờ nhoài tới nắm lấy cổ tay mẹ tôi, lẩm bẩm cái gì nữa tôi không nghe rõ.
Mẹ tôi rút phăng tay lại, mặt sạm đi. Bà đứng dậy bước ra phía cửa, quay lưng về phía lão Tự, vẻ tức giận. Lão Tự tằng hắng rồi bảo:
“Không đùa cợt với nhà chị nữa. Bây giờ hai mươi sáu. Chịu thì tôi lấy.”
Mẹ tôi quay lại, không nhìn lão ta: “Bác cho cháu xin thêm bốn đồng nữa thôi. Coi như ba chục…” Giọng bà run run.
“Ðã nói là thương hoàn cảnh nhà chị lắm tôi mới…” Lão nói và đứng dậy như chuẩn bị ra về. “Không thì chị mang lên huyện bán rồi biết. Tôi nói thật đấy. Con chó này nếu là của người khác tôi chẳng mua đâu. Hai mươi sáu là bán hộ cho chị, không được đồng lãi nào đâu.”
Trong làng tôi xưa nay chẳng có ai tự mang chó lên chợ huyện bán bao giờ. Tôi đinh ninh mẹ tôi sẽ tiếp tục van nài lão Tự, không ngờ bà chỉ thở dài, đồng ý.
Nhưng hôm ấy lão Tự không bắt được Ki Ki. Nó trốn mất bao giờ. Tôi ra vườn dong tìm cũng không thấy. Mẹ tôi hẹn lão Tự hôm sau trở lại. Lão Tự về lâu rồi, Ki Ki mới từ đâu lặng lẽ ló mặt vào trong nhà. Ðêm ấy nó không lanh lợi vui vẻ như thường lệ. Nó bỏ ăn.
Hôm sau mẹ tôi chờ, không thấy lão Tự trở lại. Mẹ tôi lo lão đổi ý không mua Ki Ki nữa. Bà sợ chính quyền bắt mất con chó và còn phạt tội không chấp hành pháp luật. Rồi lại không có tiền nhà trọ cho chị tôi.
Thế rồi hai ngày sau, lão Tự xuất hiện. Mẹ tôi không có nhà. Bà đang ngoài đồng Ngang cấy lúa cho hợp tác xã. Ki Ki thấy bóng lão, lần này nó không sủa nhưng lủi ra nhà sau. Lão Tự bảo tôi:
“Chó mấy hôm nay xuống giá quá. Chợ huyện đầy chó là chó. Dịch chó dại lan cả mấy làng bên. Không mấy ai dám ăn thịt chó nữa. Tao không muốn mua con chó nhà mày nữa, nhưng hôm nọ lỡ hứa với mẹ mày.”
Tôi thở phào trong bụng. Nghĩ đến mẹ tôi thấp thỏm lo âu mấy hôm nay.
“Làm sao bắt được nó bây giờ. Mày phải giúp tao một tay.” Lão Tự bảo.
Tôi vào bếp lục một miếng cơm nguội với chút cá vụn kho cho vào cái tô sứt miệng của Ki Ki, trong lúc lão Tự nấp đằng sau cánh cửa ra vào với cái ống tre dài có cột sợi dây thừng đã thắt nút sẵn. Tôi xuống nhà sau gọi Ki Ki lên ăn. Nó nhìn tô cơm rồi nhìn tôi. Tôi đẩy tô cơm về phía nó:
“Ăn đi, Ki Ki.”
Ki Ki tần ngần một thoáng rồi cúi xuống ăn. Bất thần, sợi dây thòng lọng từ phía sau chụp xuống cổ nó rồi nhanh chóng siết lại. Nó kêu ăng ẳng, ra sức vùng vẫy trong vô vọng. Tôi bàng hoàng nhìn lão Tự kéo Ki Ki xềnh xệch ra ngoài. Lão bỏ nó vào cái lồng sắt đằng sau xe đạp của lão, tháo sợi dây thừng ra rồi đậy nắp lại.
“Ông chưa đưa tiền.” Tôi chợt nhớ ra, vội hỏi.
“Mày con nít, biết gì?” Lão nạt tôi. “Mai tao quay lại đưa cho mẹ mày.”
Tôi nhìn qua những mắt cáo của chiếc lồng sắt vẹo vọ. Ki Ki nằm bất lực, sủa khan. Mắt nó chưa bao giờ nhìn tôi xa lạ, oán hờn như thế.
Lão Tự đạp xe đi khuất khỏi con hẽm rồi, tôi vẫn còn nghe tiếng kêu của Ki Ki vọng lại, nhỏ dần, yếu dần. Rồi tôi không nghe thấy gì nữa. Tôi chạy vào trong bếp, khóc tức tưởi như những lần bị đòn oan.
Khi mẹ tôi về, biết lão Tự đã mang con chó đi và không để tiền lại, bà giãy nãy kêu: “Con ơi là con. Bị mắc hợm lão Tự rồi”. Tôi nhìn gương mặt dại ra, đau đớn vì tiếc tiền của mẹ tôi, lại òa lên khóc. Giây phút đó thật tình tôi mong mẹ tôi đánh cho tôi một trận đòn thật đau cho đáng cái tội của tôi. Nhưng mẹ tôi chỉ ôm chặt tôi vào người bà. Thường ngày bà không mấy khi bộc lộ tình cảm với tôi như vậy. Tôi càng tủi thân, thương mẹ, thương Ki Ki, và nấc to hơn nữa. “Cha bố mày. Còn khóc nữa. Dại đâu mà quá dại”. Câu mắng yêu của mẹ tôi đẫm nước mắt.
Sau hôm ấy mẹ tôi cất công sang làng Chay tìm lão Tự mấy lần nhưng lần nào lão cũng tránh mặt. Rồi bà bị lao phổi, qua đời ba tháng sau đó. Còn lão Tự thì sau này vẫn thỉnh thoảng xuất hiện ở làng Hậu của tôi với chiếc xe đạp cũ và cái lồng sắt vẹo vọ gắn đằng sau. Một lần nhìn thấy tôi, lão vẫy tôi lại, cười hề hề, rồi vẫn cái giọng oang oang, hỏi: “Này, thế bây giờ mày ở với ai? Tao nghe mẹ mày mất rồi phải không?”

*****
Vâng. Đã gần bốn thập kỷ. Chính xác là ba mươi bảy năm. Người đàn ông cướp lấy Ki Ki của thời thơ ấu tôi giờ đang nằm thoi thóp đây. Trong phòng cấp cứu ở một bệnh viện miền đông nam bộ nơi tôi làm bác sĩ phẫu thuật. Một chiếc xe tải đụng lão rồi bỏ chạy. May có người tốt bụng chở lão vào nhà thương.
“Ông tên gì?” Tôi hỏi trong lúc giở tấm drap loang lổ những vệt máu trên người lão. Một mớ ruột non nhầy nhụa lòi ra từ bụng đã được ai đó úp cái tô lên chặn giữ lại. Cẳng tay phải của lão thì cong vồng lên như một chiếc liềm. Cả hai xương trụ và xương quay gãy đâm chìa ra ngoài da. Mặt và cổ đầy những vết xây xát.
“Tự,” lão thều thào, “Nguyễn Văn Tự.”
Đúng là tiếng nói ấy, mặc dù không oang oang như ngày xưa.
“Hồi ngoài Bắc ông ở Nam Định phải không?”Tôi buột hỏi.
Đôi mắt lờ đờ mở ra nhìn tôi, vẻ ngạc nhiên. Rồi lão gật đầu.
“Làng nào?” Tôi tiếp tục hỏi, nghe giọng mình lạc đi.
“Làng Chay.” Lão nói một cách khó nhọc, và bắt đầu rên dữ dội.
“Tôi ở cạnh ông. Làng Hậu.” Tôi lắp bắp như bị hụt hơi. “Ông đừng lo. Chúng tôi sẽ giúp ông khoẻ lại thôi.”
Lão Tự chợt ngừng bặt tiếng rên, mắt mở to thảng thốt nhìn tôi, như đang nhớ ra điều gì. Còn tôi thì cuống lên trong nỗi xúc động kỳ lạ, hối thúc nhân viên đưa ngay lão vào phòng mổ.

 

 

Please follow and like us: