Dưới bóng Cà Tang-VŨ TRỌNG QUANG

 

(Tôi đăng lại một đoạn trong bải viết “Những Cây Cầu Hát” đã lâu, nhân đọc bài của Trần Tuấn)

 

Thẳng hướng, tôi về lại quê mình Quảng Nam- Đà Nẵng, cùng cô chú em cháu xuyên háo hức qua hầm Hải Vân, cũng là một cây cầu dài trên cạn xuyên qua triệu ngàn năm đá dựng, ánh sáng như ban ngày trong hầm đường bộ hình như làm người ta quên bóng tối trong hầm đường sắt tồn tại hơn thế kỷ. Nhưng trước đó thuê xe thồ từ Quốc lộ I đến huyện Quế Sơn; thả bộ cùng các bước nhỏ học trò con em của những người thợ mỏ than gầy qua chiều dài cầu Nông Sơn trên sông Thu Bồn. Chỉ cố nhạc sĩ Trịnh Công Sơn mới “Có một dòng sông đã qua đời”, còn trường giang kiếp kiếp chảy dài từ vùng núi Ngọc Linh qua phố cổ Hội An ra Cửa Đại, nhiều con người đã qua đời nơi dòng mải miết. Tôi tin rằng những gia đình với nỗi đau mất 18 đứa con trong vụ lật đò nơi bến Cà Tang tang thương những năm trước, nhìn cây cầu mới xây, lòng sẽ nguôi ngoai, cũng như đã nguôi ngoai xin giảm án cho hai lão ông chèo đò có trách nhiệm cùng với cuồng lưu thượng nguồn con sông, gây nên thảm kịch; và chính nhiều thảm kịch nên sản sinh ý tưởng của một học trò 15 tuổi đất Kim Bằng (tỉnh Hà Nam), tên Lê Trọng Hiếu, làm ra sản phẩm cặp sách cứu sinh, chiếc cặp đựng sách kiêm chức năng chiếc phao (báo Tuổi Trẻ 8-9-2008).(*)

 

 

Tôi tìm thấy trong mỗi truyện ngắn của Hoa Ngõ Hạnh (Nguyễn Minh Sơn) những huyền thoại đạm bạc dưới bóng núi Cà Tang này. Những câu chuyện thêu dệt cho tôi chiếc túi thời gian để cất giữ biết bao nỗi buồn.

Nhờ Sơn và truyện của Sơn, suốt chừng ấy năm tôi đi về dưới bóng núi Cà Tang. Bao phen dọc ngang nơi thượng nguồn Thu Bồn này, tôi chợt nhận ra đời người có những nơi chốn không bao giờ cũ. Như nơi này. Từ người đến cảnh lúc nào cũng ngời ngợi thân thương trong tâm trí, như chỉ cần với tay là chạm ngay được. Dẫu giữa cái “chạm tay” đó là những tháng ngày xa ngút.

Từ thung lũng thần linh Mỹ Sơn hướng về Cà Tang, chỉ còn thấy một chóp núi mờ phủ tràn mây trắng. Nơi chất chứa những “huyền thoại đạm bạc”, lưu giữ bóng dáng lớn lao của một mảnh đất người đời…

Nhưng làm gì còn huyền thoại trên cõi đời này…

 

 

_______

DƯỚI BÓNG CÀ TANG

Bữa rồi về lại Cà Tang, tôi may mắn được dự lễ mở cửa truông cùng dân làng nơi Khe Hộp. Là lễ khai sơn (mở cửa rừng) đầu năm theo lệ xưa đã bao đời nơi rừng núi xứ Nông Sơn, Quảng Nam này. Bệ thờ thần Rừng là phiến đá lớn bên con suối trong vắt.

Hồi lâu rồi, tôi nghe ông Nguyễn Dậu người làng Khương Hạ kể, mỗi lần vào rừng, ông đều mang theo chai rượu và mấy thẻ nhang. Hôm nào quên là lội rừng quay về nhà lấy. Việc đầu tiên là rót rượu ra chén đặt trên phiến đá Khe Hộp, đốt nhang khấn thần Rừng và các vong linh liệt sĩ. Ông kể, không biết người khác ra sao, còn ông mỗi lần vào rừng là nghe “các anh” hát. Nhất là mùa tháng 5 tháng 6 âm lịch, gió Nam thổi, rừng đổ mưa dông, tiếng hát, tiếng nói chuyện nghe rất rõ. Trong chiến tranh, bộ đội ngã xuống ở nơi này rất nhiều. Tại Dương Trục, Khe Nhám, trại Cây Ớt, Hòn Than, Khe Hộp, Sân Banh…

Ông Dậu yên nghỉ dưới chân núi Cà Tang đã hơn mười năm nay. Còn phiến đá thiêng nơi Khe Hộp, dân làng cũng vừa góp tiền xây lên mấy bức tường với cái mái tôn che mưa nắng. Lễ vật khai sơn đơn sơ của làng không bao giờ thiếu bát chè đường và mấy tán đường đen. Trong lúc hương cúng còn chưa tàn, đám trẻ con đã được hưởng lộc trước. Còn “mâm cỗ” của người lớn trải dài trên những tấm vải nhựa trên nền đất, ai nấy lót dép để ngồi. Mâm cỗ làng đặc biệt giữa rừng thiêng. Bên những ly rượu gạo màu trắng đục, mà thơm nồng nàn không đứt…

Ngồi nơi này, chợt nhớ tới truyện ngắn “Con trâu xanh” của Hoa Ngõ Hạnh. Kể về con trâu Xe dũng mãnh, mà trong mơ tưởng của cậu bé lên mười thường theo cha thả trâu kéo gỗ trong rừng, con trâu ấy có bộ lông màu xanh như con trâu mà ông thầy Giác đạo sĩ thường cưỡi hiện về dưới núi Cà Tang. Và “Khe Hộp rộng ba sào ghe, đá hộp to bằng bàn ăn cơm, nước sâu xanh ngắt như ngọc, trên bờ cây cổ thụ mấy người ôm tỏa bóng” là nơi con Xe thường mẹp nước, nghỉ ngơi. Thế rồi bữa ấy con trâu Xe bị tai nạn sa xuống vực chết tức tưởi. “Hai cha con chôn cất con Xe màu xanh ngay trong rừng. Hai cha con lủi thủi rời khỏi cánh rừng xanh buồn thảm. Dọc đường, tới Gành Leo tôi hỏi ba, con Xe màu xanh phải không ba? Ba nói, màu đen. Không bao giờ có con trâu màu xanh. Ngoài con trâu của thằng Cuội và con trâu ông thầy Giác…”. Làm gì còn huyền thoại trên cõi đời này!

Hoa Ngõ Hạnh, tức nhà văn Nguyễn Minh Sơn là con trai của ông Nguyễn Dậu. Sơn cũng là bạn vong niên với tôi suốt mấy mươi năm qua. Tôi tìm thấy trong mỗi truyện ngắn của Hoa Ngõ Hạnh những huyền thoại đạm bạc dưới bóng núi Cà Tang này. Những câu chuyện thêu dệt cho tôi chiếc túi thời gian để cất giữ biết bao nỗi buồn.

Nhờ Sơn và truyện của Sơn, suốt chừng ấy năm tôi đi về dưới bóng núi Cà Tang. Bao phen dọc ngang nơi thượng nguồn Thu Bồn này, tôi chợt nhận ra đời người có những nơi chốn không bao giờ cũ. Như nơi này. Từ người đến cảnh lúc nào cũng ngời ngợi thân thương trong tâm trí, như chỉ cần với tay là chạm ngay được. Dẫu giữa cái “chạm tay” đó là những tháng ngày xa ngút.

Dưới bóng núi Cà Tang đến bây giờ vẫn in trong tâm trí những bô lão trong làng hình ảnh Bùi Giáng chăn dê. Người làng sẵn sàng chỉ cho bạn “đây là gò Lu, bãi thả dê xưa kia của Bùi Giáng. Còn kia là khu mộ họ Bùi …”, như một sử làng truyền miệng.

Khu mộ họ Bùi nằm không xa con đường bê tông dẫn về làng. Hai ngôi mộ lớn, 5 nấm mộ nhỏ nằm kề nhau một dãy. Năm ấy (1952), một quả bom của quân đội Pháp khoan trúng hầm gia đình ông Cửu Thứ, giết chết vợ chồng ông cùng 5 đứa con nhỏ. Kể từ buổi chiều bi thảm ấy, những người họ Bùi lần lượt rời vùng sơn thượng này, tản mát nhiều nơi.

Ông Cửu Thứ có tên là Bùi Biên, là bác ruột của thi sĩ Bùi Giáng. Thân phụ Bùi Giáng là ông Bùi Thuyên (gọi là Cửu Tý) là em liền kề ông Bùi Biên. Dòng họ Bùi gốc ở chợ Chùa, làng Thanh Châu, Duy Trinh huyện Duy Xuyên. Từ những năm 30 của thế kỷ trước, nhiều người họ Bùi đã lên lập nghiệp nơi vùng núi Trung Phước, xã Quế Trung, Nông Sơn và trở nên giàu có.

Trong trí nhớ của người làng, ruộng của ông Cửu Thứ kéo tít tắp từ núi Cà Tang tới Khương Nam (thôn 6 Quế Trung hiện giờ), khoảng vài cây số. Mỗi bận thăm ruộng ông đều cưỡi ngựa. Giàu nhưng thương người. Những năm làng đói, ông lại cho người đi rao, ai có sức thì ra ruộng nhà ông mà gặt lúa về ăn, thoải mái, hạn trong vòng một ngày. Thời kháng chiến I, mỗi dịp Trung thu thiếu nhi cả làng tập trung nơi nhà ông Cửu Thứ nhận bánh kẹo.

Còn ông Cửu Tý thân sinh Bùi Giáng là một “dị nhân” của làng. Nổi tiếng hay chữ nhưng bất đắc chí nên hơi “tàng tàng”. Nhiều người làng giờ vẫn truyền nhau những vế đối hóc hiểm của ông Cửu Tý. Lại có giai thoại sau: Bữa nọ, lớp bình dân học vụ đang tập trung ở chợ Trung Phước thì ông Cửu Tý “phi” ngựa … tàu cau tới. Giáo viên bình dân học vụ mời ông “xuống ngựa” vào lớp, ông cả cười thách đấu chữ. Suốt cả buổi đôi bên bất phân thắng bại…

Cũng nơi đây ghi dấu “đoạn đời 15 năm chăn dê nơi núi đồi Trung Việt …”. của Trung niên thi sĩ họ Bùi. Nói “15 năm” là thi sĩ mượn tích Tô Vũ chăn dê bên Tàu để nói nỗi lòng mình, kỳ thực giai đoạn chăn dê, lùa bò ấy của Bùi Giáng chỉ vào khoảng vài ba năm. “Anh lùa bò vào đồi sim trái chín/ Cho bò ăn cỏ giữa rừng sim/ Anh nhìn lên trời xanh đỏ chín/ Anh ngó bốn bề cây lá gió rung rinh/ Anh nằm xuống để nhìn lên cho thoả/Anh thấy lòng mở rộng đón trời xanh/ Chim ngây ngất vào trong đôi mắt lả/ Anh lim dim cho chết lịm hồn mình …” (Anh lùa bò vào đồi sim trái chín, BG)

Dạo ấy cũng đã lâu rồi, ngót hai chục năm trước, về Hội An tôi may mắn được gặp một nhân vật đặc biệt là ông Phạm Văn Hòa trong ngôi nhà nhỏ gần bên chùa Cầu. Ông Hòa là em ruột bà Phạm Thị Ninh, người vợ đầu tiên và duy nhất của Bùi Giáng. Năm 17 tuổi, Bùi thi sĩ gặp gỡ và phải lòng cô nữ sinh thùy mỵ, xinh đẹp khi cả hai đang học ở trường Viên Minh (Hội An).

Năm 1945, hai người kết hôn xong cũng là lúc kháng chiến I bùng nổ, phải đưa nhau lên vùng núi Cà Tang tản cư. Để rồi ngày ngày, Bùi Giáng cùng người em vợ vào núi, vừa thả bò, chăn dê vừa đọc sách. “Dạo ấy chúng tôi thường thả dê ở Gò Lu, bầy nhiều cả trăm con. Gia đình khá nên chỉ nuôi chứ chẳng bán, cũng chẳng thịt. Anh Sáu Giáng thỉnh thoảng vắt sữa dê hâm nóng đưa cho cha mẹ và vợ. Đi chăn dê, ảnh mang theo cả gùi sách tây tàu, đọc miết”. Do phải trèo đèo lội suối tránh bom đạn, bà Ninh đã bị sẩy đứa con duy nhất của hai người. Rồi lam chướng núi rừng cuối cùng cũng đang tay cướp nốt người vợ nữ sinh phố thị của chàng thi sĩ, khi nàng mới tròn 26 tuổi. “Em chết bên bờ lúa/ Để lại trên đường mòn/ Một dấu chân bước của/ Một bàn chân bé con…/ Đêm cuồng mưa khóc điên/ Trăng cuồng khuya trốn gió…/ Máu trong mình mòn ruỗng/ Xương trong mình rã riêng” (Bờ lúa – Mưa Nguồn).

Bùi Giáng bỏ nguồn, bỏ quê Quảng Nam ra đi từ đấy, mang theo hình bóng người vợ trẻ đau đáu in dấu trong thi ca suốt trọn cuộc đời…

*

Khi xảy ra vụ chìm đò ở bến Cà Tang, tôi đang biệt phái làm việc ở Hà Nội. Tin tức dội về trên mặt báo. Suốt mấy ngày thẫn thờ, nghẹn thở. Buổi sáng cuối tháng 5/2003, những ngày cuối cùng của năm học ấy, 18 em học sinh đã vĩnh viễn ra đi khi chiếc đò chở các em đến trường bị lật úp giữa dòng. Bây giờ, bên bến đò ấy là ngôi miếu nhỏ luôn được người làng hương khói tưởng nhớ những đầu xanh tuổi trẻ. Và chiếc cầu bê tông đã được xây bên cạnh, từ sự quyên góp của người dân mọi miền chỉ thời gian ngắn sau vụ thảm nạn, chấm dứt cảnh đò giang cho người dân đôi bờ sông Thu.

Cũng dưới bóng núi Cà Tang về phía đèo Phường Rạnh là một Dinh Bà cổ kính, linh thiêng. Truyền thuyết kể lại Bà là nữ tướng từ mấy trăm năm trước, trong một trận đánh đã tử thương nơi này. Bà rất hiển linh, bao đời phù trợ cho dân làng thoát khỏi mọi tai ách. Nên có chuyện kể, thời bao cấp, trong phong trào “bài trừ mê tín dị đoan”, Dinh Bà nằm trong diện bị phá bỏ. Thế rồi hôm ấy từ trên núi Cà Tang bỗng có một đống lửa đỏ rực bay xuống gần Dinh. Thế là việc đập phá lập tức bị dừng lại…

Người làng còn nhớ giai thoại về cụ Tú Quỳ – danh sĩ, cũng là một Trạng Quỳnh xứ Quảng mấy trăm năm trước. Cụ Tú người làng Giảng Hòa (xã Đại Thắng, Đại Lộc), không ra làm quan, ở nhà dạy học và… rong chơi! Giai thoại kể có lần cụ lên Phường Rạnh bẫy chim, nhử hoài nhưng không dính con nào. Cụ bèn vào Dinh Bà khấn lạy, xin Bà cho bắt được con chim có giọng hót hay nhất đàn, bù lại cụ xin trả hai bò và một chầu hát. Linh nghiệm lập tức, ngoảnh lại đã thấy một con chim hót líu lo trong lồng. Giữ lời, cụ Tú lập tức trả lễ bằng cách…bò quanh Dinh Bà hai vòng, vừa bò vừa hát bội!

Dưới bóng Cà Tang bên kia sông có ngôi làng Đại Bình nổi tiếng vì là “vựa trái cây Nam Bộ” giữa lòng miền Trung. Nơi ấy cũng là làng đại thọ, với những cụ ông ngoài 90 tuổi vẫn thoăn thoắt leo cây hái trái, cuốc ruộng, cấy cày…

Núi Cà Tang nhìn sang phía đông là núi Chúa với đỉnh Hòn Đền uy nghi. Ngọn linh sơn – nơi tựa lưng vững chãi và che chắn mưa gió, bão bùng cho Thung lũng thần linh là khu Thánh địa Mỹ Sơn. Từ đền tháp Mỹ Sơn nhìn lên, Hòn Đền trông như chiếc mỏ của chim thần Graruda, vật cưỡi của Thần Vishnu.

Còn từ thung lũng thần linh hướng về Cà Tang, chỉ còn thấy một chóp núi mờ phủ tràn mây trắng. Nơi chất chứa những “huyền thoại đạm bạc”, lưu giữ bóng dáng lớn lao của một mảnh đất người đời…

o Trần Tuấn

 

 

Please follow and like us: