Trang Từ và Nietzsche-HOÀNG THỤY

 

 

 

 

  1. Có một cái gì như là ung dung tự thích trong tâm hồn siêu thoát của Trang Tử đạo sỹ – hiểu như một nghệ sỹ hồn nhiên sống thở, sáng tạo những giá trị tối thượng.

         Một cái gì như là tiếng “vâng” thiêng liêng của Nietzsche đồng vọng qua mỗi bước chân, mỗi thoáng nhìn thiên thu, nhịp “phục diễn bất tận” (Le retour éternel), và niềm im lặng. Im lặng để chuẩn bị “tựu thành nguyên tính”. Im lặng như là khoảng trống lồng lộng “hạo hạo kỳ thiên” như là hố sâu thăm thẳm “uyên uyên kỳ mặc”, mở ra trong tâm thức bí mật của những “con người quá người”, của những con người muốn chọc thủng sự thật như là sự thật ở đời (Dasein trong triết lý của M.Heidegger), “bước trên thiện ác để” huyền đồng tính phận mình với tính phận của vũ trụ vạn vật : “Thiên địa dữ ngã tịnh sinh, vạn vật dữ ngã vi nhất”. Đó là ý nghĩa những năm im lặng cuối đời của Nietzsche. Cũng là ý nghĩa suốt đời “dong chơi những chỗ muôn vật không thể trốn được” của Trang Tử phóng dật.

  1. Tri thức hoan say” (le gai savoir) của Nietzsche là một cố gắng thể nhập, hướng về bình nguyên an thái của trẻ thơ mơ mòng – qua cuộc chuyển hóa vĩ đại và triệt để nhất của tâm thức. Giai đoạn lạc đà như một chịu phận, bần nhước, vong tính, đánh mất tính thể mình cho đồ vật, cơ khí …. Giai đoạn sư tử như cách hùng hổ tàn phá những giá trị nhỏ bé, nô lệ của con người, phủ nhận tất cả những cái gì gọi là văn minh, văn hóa của lịch sử. Sau những phá đổ triệt để đó, tâm thức con người hồn nhiên mênh mông như trẻ thơ. Bỡi vì đi cuối con đường tính phận của mình, siêu nhân bỗng hóa thành trẻ thơ thì “mới hy vọng nhìn thấy lẽ tuần hoàn biến dịch của vạn vật như một “trò chơi”(Lê Tôn Nghiêm – Triết lý giờ ngọ của Nietzsche…. – tạp chí Tư Tưởng số 8 – p.112). Mà siêu nhân phải tự cảm thấy mình gắn liền với sức mạnh sáng tạo của Đất Mẹ, mà họ với nó chỉ là một (Eugen Fink- trích dẫn bởi Lê Tôn Nghiêm) Siêu nhân phải đến với một tâm hồn nhuận khắp, tràn lan hoan say, để tưới mát vũ trụ vạn vật bằng nét thanh tân của đứa trẻ đỏ (xích tử chi tâm) “trên chơi với đấng tạo vật, mà dưới làm bạn với kẻ ngoài chết sống, không có trước sau” (Trang Tử Nam Hoa kinh – Nhượng Tống dịch. p.508). Ở đây, ta thấy như có sự tương ứng đông thanh một cách lạ lùng giữa triết lý qui hồi của Nietzsche và đạo học “các an kỳ sở an” của Trang Tử. Đó dường như là nền tảng tối hậu của mọi triết lý siêu thoát : Trở về trạng thái quân – bình – tuyệt – đối – tươi – mát của thế giới như một tình cờ, không toan tính qua một bàn tay thần linh nào đó. “Laissez venir à moi le Hasard: it est innocent comme un petit enfant” : “Để tình cờ đến với ta : trinh nguyên như một trẻ thơ” (Zarathustra p.166). Đến đây tri thức hoan say của Nietzsche đã bay bổng vào vũ trụ “tiêu dao” và “tề vật” của Trang Tử : Siêu nhân, thánh nhân, chí nhân, chân nhân hoá thân thành trẻ đỏ “vô kỷ”, “vô công” và “vô danh” trong lòng dịch hoá vô thường của thế giới. Tri thức hoan say chèo thuyền trên sông lạ ngất ngây với hương trần gian ca hát bài “tiêu dao vô trú” : “Thiên địa chi đại đức viết sinh” (Dịch – Hệ Từ)
  2. Tiếng hát kỳ diệu và vĩ đại nhất của Nietzsche là yêu thương định phận(Amor fati) trong nhịp “phục diễn bất tận” của thế giới. Tiếng hát đó chính là hơi thở tự do, âm vang dưới chân trẻ thơ, qua sấm ngôn của Zarathustra : “Hắn không còn phải người, cũng không phải mục tử, mà hắn đã biến dạng, mặt mày sáng quắc. Hắn cười? Như không bao giờ ai đã cười như thế trên trần gian này (Zarathustra trích dẫn bởi Lê Tôn Nghiêm). Tự do chính là yêu thương định phận trong mỗi khoảng khắc, thể nhận tất cả tính phận cao trọng của con người trên trần gian này như là trần gian trôi chảy muôn sắc. Tự do không còn phải quy thuận dưới bất cứ thời gian và không gian nào, mà nó chính là sự giải thoát của con người trước biến trình biểu tượng : “ Ngồi cỡi trên tất cả những biểu tượng ẩn ý, mi phóng nước đại trên tất cả những chân lý” (Also Sprach Zarathustra – Phạm Công Thiện dịch). Như vậy tự do tuyệt đối của con người cũng là chân lý được hiểu như là chân tính trong phương trời triết lý của Heidegger. Ở đây Nietzshe lại tương thoại với Trang Tử một cánh thâm thiết nhất qua ẩn nghĩa của chữ “Tiêu Dao du” trong Nam Hoa Kinh. “Tiêu Dao du” là gì? Là dong chơi ung dung tuỳ thích không bị quy định bất cứ một điều  kiện nào. Tiêu dao du chính là tự do của tự do, tự do như là tự do, hay tự do tuyệt đối. Tiêu dao du là cách thế “chế ngự sự biến đổi của sáu khí để rong chơi cõi vô cùng; nào họ chờ đợi gì đâu? Cho nên nói : Chí nhân không biết có mình, thần nhân không biết có công, thánh nhân không biết có danh” (Nam Hoa Kinh – Nhượng Tống dịch p.157). Nói khác đi tự do tuyệt đối cũng chính là siêu thoát vậy. Nhưng siêu thoát là gì? Phải chăng là nhảy vào (Satz) trong chân tính của mình và vạn vật ? Chỉ những người yêu thương định phận mới giải đáp được vấn nạn bí mật trên. (Với chúng ta, câu hỏi cũng vẫn là câu hỏi trong sự đùa chơi của dấu hiệu vô nghĩa). Nhưng để đạt đến trạng thái tiêu dao, con người phải phá vỡ những chi li phân cách nào đó của thế giới. Nói khác đi nền tảng của Tiêu dao là Tề vật, là Bình đẳng tuyệt đối. Vì, con người chỉ tự do (tiêu dao) khi nào thật sự bình đẳng với tất cả : mình sống dung thông với vạn vật như là không có vạn vật. Đó cũng là ý nghĩa của “sự sự vô ngại” trong Hoa Nghiêm kinh, và “bản lại vô nhất vật” của Huệ Năng thiền sư. Trên phương trời trong suốt đó, và chỉ trên phương trời này tự do tuyệt đối của Nietzsche và tiêu dao du của Trang Tử mới có nghĩa như một giải-thoát-tại-thế-gian-lưu-chảy này – thế gian xuất lộ nguyên trình triển nở của nó, không ẩn dấu ngăn trở. Con người trở về với Đất Mẹ trong trạng thái tràn say ngây ngất của triết thần Dionysos. Hơi thở thì thào của Nietzsche và bước chân không ngấn tích của Trang Tử…Như là…một thoáng mây.
  3. Nuôi dưỡng, phát sinh tư tưởng của Trang Tử là Dịch kinh. Trang Tử đã ăn ở, sống thở trọn đời trong Dịch kinh, mặc dù ông ít đá động đến các từ, các tượng của kinh này. Vì chính Trang Tử, hơn ai hết, đã thể nhân trọn vẹn sự sinh động, chuyển hoá muôn sắc tại đây, tại cuộc đời này và chỉ trong cuộc đời này. (Mọi ý nghĩa yếm thế, chối đời là những gán ghép sai lạc, những giải thích nông cạn của những kẻ tự nhận là nhập thể yêu đời, nhưng chưa thật sự nhảy vào dòng đời bơi lội, sống chết trọn vẹn trong đó). Những trang thật đẹp, thật hồn nhiên phóng túng, thật tươi vui ngây ngất trong Nam Hoa kinh là những chú giải tuyệt vời tư tưởng ẩn mật của Dịch kinh. Những phép “ngụ ngôn”, “trùng ngôn”, “chi ngôn” được sử dụng khắp trong Nam Hoa kinh là cách lập ngôn độc đáo, vô chấp nhất của Trang Tử. Ông đã đảo lộn mọi ranh giới thời gian, không gian – lửng lơ trong thực tại như là mộng mị: (“bất tri Chu chi mộng vi hồ điệp dư? Hồ điệp dư mộng vi Chu dư ? ”). Mặc khác, Trang Tử đã giả vờ đả kích Khổng Tử, nhưng thực sự, ông là người thâm hiểu sự thất bại và thành công của Khổng Tử hơn ai hết. Đây là một nếp gấp trong cách lập ngôn: “Đắt ý nhi vong ngôn” của Trang Tử hay “dư dục vô ngôn” của Khổng Tử vậy. Đi lên trên ranh giới của ngôn ngữ, Trang Tử chính là Khổng Tử. Lại là một nếp gấp!

        Nuôi dưỡng tư tưởng của Nietzsche cũng là trực giác biến dịch của Heraclite và “vô thường” lưu chảy của Phật Giáo. Nietzsche đã bơi lội suốt đời trong dòng sông chảy mãi như Heraclite, và thể nhận sức sống phong phú không chuẩn đích không nguyên nhân của vũ trụ. Đó là cách thế Nietzsche đóng dấu hữu thể trên biến dịch: “Marquer le devenir du sceau de l’Être” . Nietzsche tuyên ngôn: “vivre…,pour nour touché, aussi ; nous ne pouvons pas faire autrement” (Le Gai Savoir. p.12) (Sống…với chúng ta là thường xuyên chuyển hoá thành ánh sáng, thành ngọn lửa những gì trong chúng ta và cả những gì đến với chúng ta. Chúng ta không thể làm khác được). Sống là một cái gì không thể cưỡng lại được, nó như là “sinh-sinh-chi-vị-dịch”, ra ngoài sự thiết định của tri thức nhỏ hẹp, đổ ào như nước vỡ bờ, như thời gian…

       Đến đây ta thấy Nietzsche là một đánh dấu của triết học trở về với cuộc đời như là cuộc đời đã bị lãng quên trong tư tưởng biểu tượng của Platon và thần học Kitô giáo. Nietzsche đã phục hồi tư tưởng bốc lửa (ôi lửa, nền tảng của vạn vật !) nơi Heraclite, qua lời cảm tạ cuộc đời cảm tạ ngôn tính. Vì với Nietzsche ngôn tính (Logos) cũng chính là thể tính của dịch tính. Mà dịch tính rốt cùng là sinh tính vây (sinh chuyển vô hạn là dịch – theo Hệ-Từ).

       Một cách giản lược,Trang Tử và Nietzsche đã tương thuận, đồng ứng nhau trong suối nguồn Dịch tính qua những sấm ngôn, trùng ngôn lửng lơ như có như không. Những lời tuyên bố của Zarathustra (phát ngôn viên tượng trưng và kỳ bí của Nietzsche) như nối kết lối lập ngôn chịu chơi, lai rai chịu chơi của Trang sinh nghệ sĩ.

  1. Chỉ có một sứ mệnh tối thượng là sứ mệnh đối với chính mình. Châm ngôn của Nietzsche vang nhẹ và lay động tâm thức người đời: “Hãy tựu thành nguyên tính của mi”. Hãy  làm một cái nhẩy tối hậu vào tính phận mình, chỉ khi  đó mật nghĩa của tiêu dao du  và tự do tuyệt đối mới bùng vỡ, chói sáng như nhật nguyệt “Thành riêng ý mi. Cùng đạo đi về”. Tiếng hát Trang Tử hoà âm với châm ngôn của Nietzsche trong thể lưỡng nghi tương dung bất tuyệt. Con người chỉ thật sự lên đường đi về với Đạo khi tựu thành nguyên tính của mình, bởi vì Đạo cũng chính là nguyên tính vậy.
  2. Trên cửa nhà Nietzsche, ông cho khắc những dòng chữ này:

“J’habite ma propre maison,

N’ai jamais imité personne,

Et me suis moqué de tout maitre,

Qui ne s’est pas moqué de soi”

                                         (Le Gai Savoir p.5)

Trong Nam Hoa kinh có một cuộc tương thoại phiêu lãng giữa Nhan Hồi và Khổng Tử :

“Hồi toạ vong hỉ

Trọng Ni xúc nhiên viết : “Hà vị toạ vọng?”

Nhan Hồi viết : “Đoạ chi thể, truất thông minh, li hình khứ tri, đồng ư, đại thông thử vị toạ vong”

                                        (Đại Tông Sư – Nam Hoa kinh)

Tinh hoa Nietzsche và Trang Tử cô đọng trong những dòng chữ lửng lơ xa vắng ở đây.

  1. Cuộc tương thoại giữa Nietzsche và Trang Tử sẽ không bao giờ chấm dứt, nó kéo dài như cuộc sống này, như thời gian này. Nhưng vượt lên trên ngôn từ, ý nghĩa ta còn lại những gì? Phải chăng là chính mình tương thoại với mình. Lắng nghe tiếng nói thầm lặng nơi mình cũng là cách tương thoại trung tính với người đã qua, đang qua và sẽ qua…
Please follow and like us: