Hoa tiên tử-PHẠM HỮU HOÀNG

Hình ảnh trích từ https://www.pinterest.com/

 

 

 

 

 

Năm Mậu Tuất, khi đã làm chủ dải đất từ Quảng Nam đến Hà Tiên, Nguyễn Nhạc lên
ngôi hoàng đế. Nhà vua ban thưởng rất hậu cho các văn thần võ tướng phò tá từ buổi
đầu dựng nghiệp. Riêng Trương Văn Đa, con thầy giáo Trương Văn Hiến, nhà vua băn
khoăn, không biết phong tặng chức tước nào cho tương xứng. Trương Văn Đa tham gia
từ buổi đầu khởi nghĩa. Ở Tây Sơn Thượng Đạo, Trương Văn Đa huấn luyện binh sĩ đội
ngũ chỉnh tề, hiệu lịnh răm rắp, cung kiếm thành thạo. Khi xông trận thì dũng mãnh dẫn
đầu nghĩa quân tả xông hữu đột, lập nhiều công lớn. Long Nhương Tướng quân Nguyễn
Huệ rất nể phục, thường tìm tới bàn bạc việc quân. Nguyễn Huệ nói riêng với Nguyễn
Nhạc:
– Trương Văn Đa là một tuấn kiệt đa mưu túc trí. Đại huynh phải trọng dụng, đối đãi
thật tốt đấy.
Nguyễn Nhạc đồng tình:
– Huynh cũng nghĩ như vậy.
Chiều hôm ấy, tiết xuân se lạnh, nhà vua ra hòn Giả Sơn thưởng trà. Chợt thấy công
chúa Nguyệt Hương dắt thái tử Nguyễn Bảo đi dạo trên lối nhỏ giữa những khóm hoàng
hoa tiên tử trong vườn ngự uyển. Đây là loài hoa trên dãy núi phía Tây, được Nguyễn
Nhạc đem về trồng hồi còn ở ấp Tây Sơn. Hoa nở vào mùa xuân, rộ nhất lúc Nguyên
Tiêu, sắc vàng óng ả, mùi thơm quyến rũ. Nguyệt Hương rất yêu loài hoa này. Nàng
thường ra vườn quấn quýt bên hoa, nâng niu, ve vuốt những đóa mơn mởn. Mười sáu
năm trước, đúng vào đêm Nguyên Tiêu, Nguyễn Nhạc và vợ là Trần Thị Huệ ra hoa
viên ngắm những khóm hoàng hoa tiên tử lung linh ảo diệu dưới trăng. Lúc này, Trần
Thị Huệ đang có mang, sắp tới ngày khai hoa nở nhụy. Tại đây, bất ngờ Trần Thị Huệ
chuyển dạ sinh Nguyệt Hương. Đến tuổi cập kê, dung nhan nàng kiều diễm mặn mà,
tính khiêm nhường hiếu thuận. Điều lạ là người nàng luôn phảng phất mùi hương y như
hương hoàng hoa tiên tử. Nguyễn Nhạc ngạc nhiên nhủ thầm: “Phải chăng con gái ta là
hiện thân của loài kỳ hoa đó”. Hằng năm, cứ đến Nguyên Tiêu, Nguyễn Nhạc tổ chức
tiệc lớn mừng ngày Nguyệt Hương chào đời.
Một ý nghĩ lóe lên trong đầu Nguyễn Nhạc: “Hay là kén Trương Văn Đa làm phò
mã? Viên tướng họ Trương trở thành con rể, sẽ hết mực trung thành. Con gái ta sẽ có
nơi nương tựa xứng đáng. Thật là nhất cử lưỡng tiện”. Hôm sau, vua liền truyền gọi
Trương Văn Đa vào ngự thư phòng truyền ý chỉ. Trương Văn Đa vô cùng cảm kích, vì
từ lâu đã trộm nhớ thầm thương Nguyệt Hương nhưng không dám mở lời. Nhà vua chọn
ngày lành tháng tốt tổ chức lễ cưới cho đôi trẻ.
* *
*

2

Đầu năm Quí Mão, có tin cấp báo từ phương Nam. Gia Định rơi vào tay Nguyễn
Ánh. Tình hình nước sôi lửa bỏng. Nguyễn Nhạc thiết triều khẩn cấp bàn việc đánh dẹp.
Vua giao cho Long Nhương Tướng quân Nguyễn Huệ lĩnh ấn thống lĩnh ba quân.
Nguyễn Huệ nhận nhiệm vụ song lại thưa:
– Tâu bệ hạ, lần này xin cho phò mã Trương Văn Đa xuất chinh.
Nguyễn Nhạc không bằng lòng:
– Các tướng của ta không thiếu người giỏi. Hoàng đệ chọn bất kì ai cũng được. Sao
lại chọn phò mã?
Nguyễn Huệ biện giải:
– Quân ta vào Nam ba lần, giặc đều đại bại. Nhưng khi ta rút về, giặc trỗi dậy, Gia
Định lại thất thủ. Bởi chúng ta không có người trí dũng song toàn trấn thủ ở đấy. Theo ý
thần, chỉ có phò mã Trương Văn Đa mới đảm nhận được trọng trách đó.
Cuộc bàn luận kéo dài đến giờ Ngọ vẫn chưa ngã ngũ. Hầu hết quần thần đều tán
thành ý của Long Nhương Tướng quân. Nhưng nhà vua vẫn đắn đo chưa quyết. Thật
tình Nguyễn Nhạc không muốn Trương Văn Đa rời thành Hoàng Đế. Chỉ vì việc hệ
trọng của hoàng gia. Từ lúc Trương Văn Đa được phong chức Thái tử Thái bảo dạy thái
tử, việc học Nguyễn Bảo ngày càng tấn tới. Nhà vua hết sức hài lòng. Hơn nữa, gần đây,
Nguyễn Nhạc đã nhận ra, Nguyễn Huệ có ý không thần phục vương quyền. Cho Trương
Văn Đa theo Nguyễn Huệ chinh Nam lần này, e rằng giao tình hai người càng thêm thân
thiết. Một khi chim bằng được chắp thêm cánh, di họa về sau thật khó lường.
Nguyễn Nhạc trù trừ chưa quyết, Trương Văn Đa bước ra thưa:
– Tâu bệ hạ, thần xin được chinh Nam cùng Long Nhương Tướng quân.
Nguyễn Nhạc ngạc nhiên gặng hỏi:
– Ồ! Sao khanh lại muốn đi?
Trương Văn Đa đáp:
– Giặc Nguyễn là mối nguy hại lớn cho xã tắc. Phải diệt trừ tận gốc. Thần quyết dốc
sức một phen. Đây là cơ hội báo đáp ân sâu của bệ hạ.
Nguyễn Huệ vui mừng:
– Kính mong bệ hạ ưng chuẩn.
Quần thần nhất dạ nói theo. Nguyễn Nhạc miễn cưỡng:
– Các khanh sớm ca khúc khải hoàng thỏa lòng trẫm mong đợi.
Trương Văn Đa về tới dinh. Trông thấy sắc mặt khác lạ của chồng, Nguyệt Hương
đoán có chuyện bất thường. Nàng ân cần hỏi han:
– Chuyện gì vậy phu quân?
Trương Văn Đa ngồi xuống tràng kỉ, chậm rãi kể cho nàng nghe việc ở triều. Tưởng
chừng Nguyệt Hương sẽ mặt ủ mày ê. Nhưng nàng nói rành rọt:
– Thiếp biết tình hình phương Nam làm phụ hoàng lo lắng ăn ngủ không yên. Thiếp
rất vui vì chàng gỡ mối lo cho người. Đừng lo cho thiếp.
Nguyệt Hương nép đầu vào vai chồng. Chung sống bao nhiêu năm, Nguyệt Hương
luôn dịu dàng, đằm thắm, nhưng lần đầu tiên nàng lại mạnh mẽ, nghĩa khí đến vậy. Thì

3

ra dòng máu kiêu hùng của hoàng đế Thái Đức vẫn âm thầm chảy trong huyết quản
nàng. Nguyệt Hương chuẩn bị hành trang cho chồng. Đến giờ xuất phát, Trương Văn Đa
ngậm ngùi nhìn vợ lần cuối rồi nhảy lên mình ngựa. Nguyệt Hương cố nén giọt lệ chực
trào trên bờ mắt, bồi hồi thổn thức trông theo bóng phu quân cho tới khi khuất hẳn.

* *
*

Quân Tây Sơn lần thứ tư vào Nam đánh Gia Định. Phò mã Trương Văn Đa được
Long Nhương tướng quân giao chỉ huy đội quân tiên phong. Dưới sự chỉ huy của
Trương Văn Đa, quân Tây Sơn xung trận thắng như chẻ tre, đánh tan tuyến phòng thủ
của đại tướng Châu Văn Tiếp ở hạ lưu sông Gia Định, bắt sống tướng chỉ huy đồn Ngư
Giác Dương Công Trừng, chém chết tại trận tướng Nguyễn Văn Quý trấn giữ đồn Đồng
Tuyên, phủ Kiến An, trấn Định Tường… Trương Văn Đa tham gia góp công lớn vào
chiến dịch đánh thắng hai vạn quân Xiêm do Nguyễn Ánh rước vào tại Rạch Gầm-Xoài
Mút… Cả dải đất phương Nam đã bình định xong, Trương Văn Đa được cử giữ chức
Trấn thủ Gia Định. Đêm trước khi về Quy Nhơn, Nguyễn Huệ cùng Trương Văn Đa
ngồi đối ẩm trong trại quân. Nguyễn Huệ nói:
– Ở đây chỉ có ta và điệt tế, là người trong nhà, không câu nệ lễ nghi. Điệt tế có kế
sách nào giữ yên được Gia Định?
Trương Văn Đa thưa:
– Giặc thua nhưng chưa tan nên phải phòng bị cẩn mật, tuyển mộ binh lính, thao
luyện tinh nhuệ, sẵn sàng ứng chiến. Nhưng việc quan trọng hơn là phải chiêu hiền đãi
sĩ, trọng dụng nhân tài, khai khẩn trồng trọt, làm cho nơi nơi trù phú. Có vậy mới vỗ yên
bá tánh, thu phục nhân tâm. Lòng dân quy về ta, giặc chẳng chóng thì chầy cũng bị tiêu
diệt.
Nguyễn Huệ cười ha hả:
– Quả không phụ sự tin cậy của ta. Giờ ta yên tâm mà lo chuyện phương Bắc. Nào!
Mời điệt tế uống với ta chung rượu này.
Rồi lại cười bảo:
– Còn cháu gái của ta, điệt tế tính như thế nào? Vợ chồng son mà mỗi người một
phương coi sao được. Ta về thưa với hoàng huynh cho điệt nữ hành phương Nam đặng
phu thê sum họp nhé.
Trương Văn Đa xúc động:
– Xin bái tạ hoàng thúc.

* *
*

Tháng Giêng năm Bính Ngọ, thuyền chở công chúa Nguyệt Hương cập bến Gia
Định. Tổng trấn Trương Văn Đa cùng các tùy tùng xuống tận bến sông nghênh rước.
Nguyệt Hương tưởng chừng như giấc mộng. Mấy năm ly biệt. Bao đêm nàng âu sầu,
thao thức trong khuê phòng lạnh lẽo, nỗi nhớ thương trào dâng tê tái cả lòng. Nàng nhớ
tiếc không nguôi những ngày tháng hương lửa mặn nồng. Và nỗi lo lắng cho sự an nguy
của chồng nơi tên đạn hiểm nguy… Giờ gặp lại chồng, nàng vui mừng khôn xiết. Về tới

4

tư thất, bước qua cổng, Nguyệt Hương sững sờ. Những khóm hoàng hoa tiên tử ngập
một sắc vàng trong hoa viên trước tiền đường. Nàng lặng người trong niềm xúc động bồi
hồi. Trương Văn Đa nói:
– Khi dẹp yên được giặc, ta liền sai người về quê mang vào trồng. Hoa chịu cái nắng
chói chang phương Nam nên nhanh tươi tốt. Ngắm hoa, ta như được nhìn thấy nàng.
Niềm hạnh phúc dâng trào trong lòng Nguyệt Hương. Mắt nàng rớm lệ. Phu quân dù
bộn bề việc quân, nhưng lúc nào cũng nhớ đến nàng. Trái tim chàng chỉ ấp ủ một hình
bóng nàng. Nguyệt Hương trao cho chồng một cái hộp khảm xà cừ óng ánh. Nàng nói:
“Của Nguyễn Bảo gửi phu quân”. Trương Văn Đa mở ra xem. Những bài thơ của đứa
học trò nhỏ. Đọc xong, Trương Văn Đa gật gù: “Thật không uổng công ta dạy dỗ bấy
lâu nay”. Nguyệt Hương kể:
– Nguyễn Bảo nằng nặc đòi theo thiếp vào Nam gặp phu quân nhưng phụ hoàng
không cho. Thái tử luôn mong ngóng chàng.
Trương Văn Đa ngậm ngùi:
– Ta cũng nhớ thái tử lắm, trông đến ngày ấy.
Với vẻ tiếc nuối, Trương Văn Đa kể cho nàng nghe việc để sổng Nguyễn Ánh tại đảo
Cổ Long:
– Thủy quân ta đã dàn trận vây kín, tưởng chừng hắn đã ở trong tay. Ai ngờ sóng to
nổi dậy, thuyền chòng chành muốn đắm. Binh lính mãi lo tập trung chống đỡ, nhân đó
hắn trốn thoát. Giá mà bắt được hắn thì mối lo phương Nam vĩnh viễn không còn. Ta đã
hồi hương đoàn tụ.
Nguyệt Hương an ủi:
– Đó không phải lỗi ở chàng, can gì phải buồn.
– Ta biết vậy, nhưng nhớ lại chuyện ấy, vẫn cứ thấy tưng tức.
Lúc rỗi rảnh, Trương Văn Đa đưa nàng đi thăm thú đó đây. Khi thì xuôi theo các
sông ngòi kênh rạch mênh mang mùa nước nổi, đến những vườn trái cây thưởng thức
các loại quả chín vàng ngọt lịm; khi thì đến viếng các đền chùa miếu mạo sắc màu cổ
kính trang nghiêm, quan lãm những thắng cảnh kỳ thú lạ lùng. Cả phần đời vừa qua
sống quẩn quanh nơi cung vàng điện ngọc, giờ trước mắt nàng mở ra bao nhiêu điều mới
lạ hấp dẫn. Niềm vui nối tiếp tưởng chừng như bất tận trong những ngày ở bên chồng
trên vùng đất phương Nam ấm êm, phồn thịnh.
* *
*

Chiếu hoàng đế Thái Đức từ Quy Nhơn gửi vào khiến quan Trấn thủ Trương Văn Đa
sững sờ. Ông phải bàn giao chức tổng trấn Gia Định cho Đông Định Vương Nguyễn Lữ,
trở về thành Hoàng Đế tiếp tục dạy thái tử học. Trương Văn Đa hết sức lo lắng. Sao nhà
vua lại triệu hồi ông về lúc này? Lẽ nào nhà vua không biết Nguyễn Ánh được sự trợ
giúp của bọn Phú Lang Sa, đang chuẩn bị lực lượng tiến đánh Gia Định. Ông đang rèn
giũa quân sĩ, bài binh bố trận, quyết một trận sinh tử… Còn Đông Định Vương Nguyễn
Lữ. Hơn ai hết, ông thừa biết Đông Định Vương chưa từng trải nhiều trận mạc, tính ôn

5

hòa, thiếu quyết đoán, liệu có đủ bản lĩnh đối địch với một kẻ lão luyện, có tài thao lược
như Nguyễn Ánh không? Trương Văn Đa kể cho Nguyệt Hương sự việc rồi nói:
– Rời Gia Định lúc này, lòng ta cảm thấy bất an.
Nguyệt Hương ngậm ngùi an ủi:
– Chắc phụ hoàng có nỗi khổ riêng mình. Thôi, phu quân đừng quá lo nghĩ, chỉ thêm
phiền muộn.
Về tới thành Hoàng Đế, Trương Văn Đa mới hiểu tường tận đầu đuôi cơ sự. Nội bộ
lục đục bất hòa. Hoàng Đế Thái Đức cắt đất từ Quảng Nam trở ra giao cho Bắc Bình
Vương Nguyễn Huệ làm chủ. Phong Nguyễn Lữ làm Đông Định Vương trấn giữ Gia
Định. Vua Thái Đức triệu hồi ông về để củng cố phần còn lại của vương triều. Trương
Văn Đa buồn lắm. Bề ngoài ông chuyên tâm chăm lo việc dạy thái tử nhưng bên trong,
vẫn dõi theo tình hình chiến sự phương Nam. Điều ông lo sợ đã thành sự thật. Quân
Nguyễn kéo đến. Nguyễn Lữ giao thành cho các tướng rồi bỏ về Quy Nhơn. Gia Định
một lần nữa rơi vào tay giặc…

* *
*

Thế lực quân Nguyễn ngày càng lớn mạnh. Liệu chống không lại, nghe lời tấu của
Trương Văn Đa, Nguyễn Nhạc từ bỏ đế hiệu, giao việc nước cho Nguyễn Huệ, nhún
mình tự xưng là Tây Sơn Vương. Vua Quang Trung đột ngột băng hà. Quân Nguyễn
thừa cơ kéo ra, hai mặt thủy bộ vây thành Hoàng Đế. Trương Văn Đa chỉ huy quân giữ
thành chống cự quyết liệt nhưng lực yếu, thế cô, không thể giữ nổi. Tây Sơn Vương bất
đắc dĩ phải cầu cứu Phú Xuân. Vua Cảnh Thịnh sai các tướng đem quân giải cứu rồi
chiếm luôn thành Hoàng Đế. Nguyễn Nhạc uất hận thổ huyết. Bệnh không qua khỏi.
Trước khi mất, gọi gia quyến tới bên giường. Vương căn dặn Nguyễn Bảo:
– Đang lúc vận hạn, cơ nghiệp nhà ta còn hay mất chỉ còn trông cậy phò mã. Lúc
này, con phải nhất nhất nghe lời chỉ bảo của anh rể. Có vậy ta mới yên lòng nhắm mắt.
Nguyễn Bảo hứa vâng lời. Tây Sơn Vương mất. Vua Cảnh Thịnh phong cho Nguyễn
Bảo giữ chức Hiếu công, ăn lộc một huyện Phù Ly. Tham tán Từ Văn Tú, một bề tôi của
Hiếu công bí mật hàng quân Nguyễn. Nguyễn Ánh bảo Từ Văn Tú chiêu dụ Nguyễn
Bảo quy thuận, đem quân bản bộ đánh úp thành Hoàng Đế. Còn mình, sẽ sai tướng đem
binh trợ chiến. Nếu thành công sẽ cho Nguyễn Bảo trấn giữ thành Hoàng Đế. Một thuộc
tướng thân cận Nguyễn Ánh hỏi:
– Ngài thu dụng Nguyễn Bảo thật à?
Nguyễn Ánh nhìn viên tướng vừa hỏi bằng ánh mắt giễu cợt, cười khẩy nói:
– Dùng hay không là việc của ta. Đừng có thắc mắc lắm lời.
Nguyễn Bảo nghe lời to nhỏ rủ rỉ của Từ Văn Tú dần xiêu lòng. Bởi căm thù Cảnh
Thịnh đã bức hại phụ thân, chiếm đoạt cơ nghiệp. Hôm đó, Nguyễn Bảo họp kín các
tướng bàn tính việc đầu hàng. Trương Văn Đa thất kinh ra sức can ngăn:
– Xin chúa công suy xét tường tận. Quân Nguyễn mới là kẻ thù bất cộng đới thiên.
Cơ nghiệp tiên đế dày công xây dựng không thể tự nhiên đem dưng cho giặc. Với lại,
Nguyễn Ánh là kẻ giảo quyệt, lòng dạ khó lường, không thể tin được.

6

Từ Văn Tú xen vào:
– Phò mã nói sai rồi. Nguyễn Vương là người đức độ, khoan dung. Các tướng Tây
Sơn ta về hàng đều được trọng dụng, hiện quyền cao chức trọng đó sao.
Trương Văn Đa rút phắt kiếm ra mắng:
– Đồ phản phúc. Tây Sơn Vương đối đãi với mày không bạc, mà mày lại bán chúa
cầu vinh. Tao quyết phanh thây mày mới hả giận.
Nguyễn Bảo đứng phắt dậy, trợn mắt thét:
– Định làm loạn hay sao? Bây đâu! Bắt Trương Văn Đa cho ta!
Tốp lính hầu ập tới tước gươm, trói lại. Trương Văn Đa uất nghẹn không nói thành
lời, mặt đỏ phừng phừng. Trương Văn Tú kề tai Nguyễn Bảo nói nhỏ. Nguyễn Bảo liền
hạ lệnh:
– Giam ông ta vào ngục, chờ lệnh ta.
Trương Văn Đa ngồi bó gối giữa bốn bức tường chật chội. Đầu bời bời bao ý nghĩ.
Ông lo lắng cho Nguyễn Bảo. Hận thù riêng che mờ lí trí đã biến Nguyễn Bảo thành kẻ
cạn hẹp, mù quáng, bất chấp đạo lý. Hành động nông nổi nghe lời Trương Văn Tú sẽ
dẫn tới họa diệt vong. Nhưng làm sao ngăn chặn việc ấy đây? Hai tay ông đang bị xiết
chặt trong gông cùm. Trương Văn Đa thở dài não ruột. Ông có lỗi với Tây Sơn Vương,
chưa thực hiện được lời kí thác của Vương lúc lâm chung. Rồi lo lắng cho Nguyệt
Hương: “Nàng như một đóa hoàng hoa tiên tử mỏng manh. Ta có mệnh hệ gì, ai sẽ chăm
lo, bảo bọc nàng?…”.
Bất chợt, dưới ánh sáng chập chờn của ngọn đuốc treo trên vách ngục, người lính già
quản ngục bước vào cùng với Nguyệt Hương. Trương Văn Đa ngạc nhiên: “Sao Nguyệt
Hương biết mà đến đây?”. Người lính giữ ngục tháo xiềng, mở cùm. Trương Văn Đa
đứng dậy. Nguyệt Hương ôm chầm lấy chồng, nước mắt rơi lã chã. Giọng nghẹn ngào:
– Người quản ngục khi trước là người nhà của thiếp. Ông ấy đã kể rõ mọi chuyện.
Chúng sẽ hại tướng công. Chàng phải đi mau.
– Không được! Nàng sẽ gặp nguy hiểm!
– Nguyễn Bảo chắc không nỡ ra tay với thiếp đâu.
Người quản ngục xen vào:
– Chúng đã sai tôi đóng cũi dìm ngài xuống sông. Đêm nay chúng sẽ ra tay. Chậm trễ
e không kịp đó. Công chúa với tôi sẽ tùy nghi ứng phó.
Trương Văn Đa dùng dằng không chịu đi. Nguyệt Hương thúc giục mãi. Nghĩ kĩ, lời
Nguyệt Hương ngẫm ra cũng có lý. Lẽ nào Nguyễn Bảo lại hại hiền tỷ hết lòng yêu
thương, chăm sóc gắn bó từ lúc ấu thơ? Trương Văn Đa gạt lệ nhỏ nhẹ:
– Bảo trọng nhé. Thời cơ thuận lợi, ta sẽ quay lại đón nàng.

* *
*

Ở Thuận Hóa bỗng xuất hiện ấp Bái Đáp. Ấp nằm kín đáo trong rừng sâu, lưng dựa
vào núi, phía trước là sông, tách biệt với cư dân quanh vùng. Lập ấp là một người đàn
ông trung niên dáng vẻ phong trần. Lúc ông đến đây, vùng đất này còn hoang sơ, cây cỏ,
bụi rậm um tùm. Ông dựng nhà cửa, vỡ đất khai hoang, xua đuổi thú dữ, vượt qua mọi

7

cam go thử thách. Ông sống một mình trong ngôi nhà khang trang, mặt tiền hướng vào
Nam. Phía trước là khoảng sân rộng, bên phải có cái miếu thờ không bài vị, quanh năm
hương khói. Bên trái là một hoa viên chỉ trồng duy nhất một loài hoa, đến mùa xuân, hoa
chỉ nở một sắc vàng. Ông sống thanh đạm, giản dị, thú vui duy nhất của ông là vun
trồng, tưới tiêu chăm sóc hoa. Người tứ phương tìm tới lập nghiệp ngày càng đông. Đến
triều vua Gia Long, cuộc sống ở đây đã phồn thịnh. Các quan hệ xã hội được thiết lập…
Tri huyện sở tại là một vị quan thanh liêm hiền đức, khi vào Bái Đáp thị sát, tiếp xúc với
ông, nể phục đức độ, văn chương thi phú, liền kết giao, xem như tri kỉ, rỗi rảnh thường
lui tới đàm đạo.
Tuy đã bình định xong nhà Tây Sơn, nhưng vua Gia Long vẫn canh cánh một mối lo.
Tàn dư giặc còn manh mún khắp nơi. Một số tướng lĩnh Tây Sơn mất tung tích, trong đó
có phò mã Trương Văn Đa. Nhà vua đã ra lệnh truy lùng khắp mọi nơi, nhưng vẫn bặt
vô âm tín. Nhà vua nói với các bề tôi:
– Trương Văn Đa là kẻ rất lợi hại. Ngày nào chưa bắt được hắn, ta ngủ chưa yên
giấc. Năm xưa, nếu trời không phù hộ, ta đã mất mạng dưới tay hắn tại đảo Cổ Long rồi.
Triều thần ra sức dò la tông tích Trương Văn Đa. Chúng ghi rõ lai lịch, đặc biệt là sở
thích về hoàng hoa tiên tử và tả tỉ mỉ loài hoa đó… Rồi gửi trác về các phủ huyện. Các
quan lại địa phương khắp cả nước dựa vào đó mà tra xét. Chiều ngày rằm tháng Giêng,
quan tri huyện sở tại tới nhà ông. Ngồi đối ẩm, gương mặt quan thật khác lạ, mắt nhìn
chăm chắm những khóm hoa vàng trong hoa viên. Đột ngột trỏ vào hoa cất giọng hỏi:
– Dám hỏi huynh, đó có phải là hoàng hoa tiên tử không?
Ông giật mình… Nhưng liền trấn tĩnh lại ngay, bình thản gật đầu.
Quan tri huyện lặp bặp:
– Huynh… chính là… Trương Văn Đa?
Im lặng…
Quan đứng phắt dậy, bước ra khỏi ghế:
– Tôi phải bắt huynh.
– Xin đợi đến sáng mai được không? Đêm nay, tôi còn một tâm nguyện phải thực
hiện.
Quan tri huyện chần chừ một lúc. Nghĩ tới giao tình sâu đậm bấy lâu nay, trước lời
thỉnh cầu đó, cũng không nỡ chối từ.
– Được rồi, đầu giờ Mão, tôi phải áp giải huynh về kinh.
Ra khỏi cổng, quan bảo viên Chánh suất đội điều binh lính bủa vây kín mít, canh
phòng cẩn mật, vũ khí sẵn sàng. Trương Văn Đa mặc cho tất cả. Đêm đó, ông bày cuộc
rượu ở hoa viên. Trước mặt là khóm hoàng hoa tiên tử vừa nở rộ. Ông uống rượu. Đêm
càng sâu, trăng càng tròn vạnh, không gian hư ảo, men nồng chuếnh choáng… Bỗng
những cánh hoa lấp lánh sắc vàng óng ả, khẽ đung đưa như cánh tay nuột nà của những
tiên nữ trong vũ khúc lạ lùng. Rồi từ hoa hiện ra một bóng người. Trương Văn Đa ngỡ
ngàng như không tin vào mắt mình: “Nguyệt Hương! Đúng là nàng rồi!”. Lòng xao
xuyến bồi hồi, ông muốn bước đến bên nàng nhưng chân không không nhúc nhích được;
muốn nói một điều gì đó nhưng miệng cứ ấp úng không thành lời. Giọng Nguyệt Hương

8

thật buồn: “Thiếp lạnh lắm, cô đơn lắm chàng ơi!”. Gương mặt nàng ảo não! Mắt ngấn
lệ, xiết bao yêu thương!… Bóng nàng chập chờn ẩn hiện một lúc rồi mờ dần… Một làn
gió lạnh thoáng qua làm Trương Văn Đa rùng mình. Cảnh vật u tịch dưới ánh trăng nhợt
nhạt. Bốn bề trống vắng cô liêu. Lòng Trương Văn Đa quặn thắt. Ông nghẹn ngào:
“Không ngờ đứa học trò ta kỳ vọng, tin yêu lại trở thành tàn độc, tán tận lương tâm đoạn
tình cốt nhục. Nguyệt Hương ơi! Nàng biết không? Cái đêm mù mịt mưa gió dập vùi,
đứng trên bờ sông, ta đau đớn tột cùng, biết nàng ở đâu dưới dòng nước lạnh phũ phàng.
Nàng đi vào cõi thiên thu, còn ta phải kéo lê kiếp sống tàn nơi góc núi đìu hiu cô quạnh.
Trải hết một kiếp người vinh nhục, ta mới hiểu ra, chỉ có nàng là một báu vật mà ta may
mắn có được trong đời…”.
Trương Văn Đa uống tràn. Hết chung này đến chung khác. Lệ ướt cả râu, rơi thấm
vạt áo. Uống tới khi trời đất tối sầm lại… Sáng sớm hôm sau, quan tri huyện cùng những
người tùy tùng bước vào. Trương Văn Đa đã nhắm mắt xuôi tay từ lúc nào. Ông nằm
bên khóm hoàng hoa tiên tử. Phía trên, những bông hoa đang độ xuân thì, óng ánh sắc
vàng, rực rỡ, tinh khôi…

Please follow and like us: