Mùa xuân đen-THỤY

tranh Jean Soyer /Pháp

 

 

 

 

 

 

khi anh nhận được thư này, có lẽ sẽ là một ngày ảm đạm. tôi hy vọng sẽ không là buổi chiều, như lúc này, tôi đang viết, buổi chiều, năm giờ hơn, chuông nhà thờ đã kéo thê thiết trên đỉnh một cái đồi trọc bóng cây, hoe hoét vài nhành liễu rủ. như tóc của bọn ma cô mà có hồi tôi trông thấy sau vườn hồi những khuya khoắt mùa đông. chúng rít thuốc và đốt lửa lập loè, tụ tập, chơi thôi, chắc vậy. sáng hôm qua tôi mở cửa nhìn bụi kim ngân vùi mình trong đống khói đã tàn rụi bởi sương ẩm, mặt đất xây xước vết cào, tôi đoán có thằng mang đôi giày đế đúc nặng, nhiều rãnh, và nó gây sự đánh nhau với thằng khác, hoặc nếu không thì cả lũ đã nằm lăn nằm lê và cắm mặt đào xuống đất bằng mấy cái móng tay cáu bẩn. anh sẽ hiểu, nếu vục cả hai bàn tay vào đất, trong cái thứ mùa đông u uất này. người ta muốn tìm lối thoát, dù chỉ là vô thức. mùi của hơi nước rũ rượi từ đâu đó trên cao vẫn kẹt lại giữa các kẽ móng, mùi ngai ngái của mấy loài thực vật hoặc vô danh hoặc đầy độc tính, mùi man dại của một cái đáy trời lờ nhờ trắng đục mà ở tại đó con người sẽ ngay lập tức trở thành kẻ không mời, sẽ thấy mình bé nhỏ, đầy dã tâm, và ngu dốt. khi anh mở thư này sẽ thấy vết xám nâu như bám bụi đã cố phủi đi mà không hết. ấy là bởi tôi đã không rũ mình. trước lúc ngồi xuống viết. buổi chiều, bây giờ đã quá hẳn năm giờ một lúc, vừa trở về, tôi đã mất hồi lâu, mở cửa, đi ra, đi vào, để ngồi vào bàn viết, tôi viết cho anh. tôi viết trong lúc đang cố giữ cho mình nguyên vẹn, khi còn nguyên bùn đất trong các kẽ ngón tay. bùn đất từ một cái huyệt đào vội phía bên kia rừng, dưới một tán cây hồng đương quả.

G.R nói với tôi mấy bụi kim ngân sẽ chết trước khi mùa xuân tới. một trận mưa dầm sẽ dập chúng tơi bời, chẳng cần đến bọn ma cô đốt lửa. như cái đêm tầm tã của William F. thế giới đầy bụi phủ và bốc mùi cá ươn, và chúng ta thì cứ kéo lê những lời để che đậy dấu chân mình trên mặt đất. như vậy đấy, thứ ông ta viết có vẻ sẽ đánh động những tâm hồn thích sướt mướt vì trông ra uỷ mị cũng là một kiểu hoa văn, nhưng cái cốt lõi nhất là sự tàn nhẫn thì không bao giờ biến mất, người ta mãi rồi không dứt ra khỏi ý nghĩ mình yếu đuối bởi mình yêu thơ văn và cái đẹp, thế rồi họ không kháng cự để trông thấy sự tàn nhẫn đó đang trùm lên đầu họ. ngạt thở mà không biết. William F. không làm tôi khóc. ông ta làm tôi ngạt thở. nhưng càng ngạt thở, tôi càng muốn cầm dùi đục lỗ vào tất cả cho đến khi mọi vỏ bọc bung ra. G.R có một cây bàng nhỏ trồng trong chậu đường kính hơn nửa gang tay, đặt trên bàn, cô ít bao giờ đem nó ra ngoài nắng, vào buổi sáng cô không mở cửa. ánh sáng gây ồn, trước buổi trưa thì chúng ồn khủng khiếp. G.R chỉ ngủ 4 tiếng, thức dậy lúc 6 giờ. cô viết ngay sau đó, gần như lập tức. cô viết nhiều, không trật tự, không chủ đích. tôi đã dọn dẹp chỗ này trước lúc lên đồi đào huyệt dưới cây hồng, và không có chỗ nào mà cô không nhét giấy vào ấy. toàn những chữ viết khoắng, mực xanh ngả thâm đen, nấm mốc mọc trắng viền và tôi có cảm giác chúng đang ăn đi từng nét một. tôi lôi ra được một mớ những chữ nghĩa bị vo viên, đè lên nhau chật cứng trong hai mươi bảy lỗ vuông thông gió tôi nghe mưa vào buổi trưa, mưa trên mái tôn, từ nơi nào xa, vọng lại, tôi đứng im, hai mươi bảy lỗ thông gió im, bốn bức tường im, Quentin im, cái lạnh sáng hay tối cũng im, tôi gần như đã đốt William F., tôi không chịu nổi mùi kim ngân chết rữa, dưới trời mưa, chân tôi đẫm nước từ một cái vũng không biết ở đâu rớt xuống, làm sao người ta biết mình chỉ đến đó, đoạn sau đã bị mối cắn nát bươm, không dấu chấm hay phẩy, không biết câu ấy còn hay hết, tôi không đọc rõ nữa, cũng có thể trong phòng quá tối và lúc đó thì tôi chẳng còn tâm trí đâu mà cố đuổi theo một vụn vặt. không có cái cửa sổ nào cả, căn phòng giống như một nấm mồ, thứ duy nhất báo hiệu ngày và đêm là hai mươi bảy lỗ thông gió. cứ mỗi năm giờ chiều hoặc bốn giờ sáng sẽ có tiếng chuông nhà thờ. lần cuối gặp G.R, tôi nhớ cô bị rối loạn giấc ngủ. cô thường gục xuống bàn viết bất thình lình và sực tỉnh ngay vào lúc chuông kêu. nó rền rĩ, như báo tang, lại như buộc tội, như thể tôi mắc tội. tôi không ngủ lại được nữa, tôi thấy khát, tôi uống rất nhiều nước, nhưng tiếng chuông ngay cả khi đã ngừng vẫn lẳng lặng cào vào tôi, tôi như bị cắt cổ. cô đã phải đối diện với buổi đêm trong nỗi ám ảnh rằng nó sẽ không bao giờ trở lại nguyên vẹn, tiếng chuông đã chém vào màn đêm vĩnh cửu của cô, trộm đi một phân đoạn và tráo vào đó một thứ giả hiệu của buổi ngày, khoảnh khắc chuyển tiếp, đã không còn đêm nhưng ngày cũng chưa hẳn. nó khiến tôi phát bệnh, tôi tự hỏi không biết có phải tiếng chuông đã báo trước một kết cục nào đó cho mình.

đã nhiều lần tôi truy tìm nguyên do những ám ảnh của G.R. không có nhiều đầu mối. mãi cũng chỉ mơ hồ hình như là buổi chiều hôm đó. chúng tôi đã thấy một con ngựa chết trên đường. ban đầu chúng tôi chỉ nghĩ đơn thuần rằng mình bị chắn lối bởi một con ngựa lạc bầy, nó khá to, khung xương rộng, da đỏ bầm, hai móng sau thô và sứt sẹo như đeo đôi ghệt cũ rích, hai bên bụng phình to, cẳng chân đóng cứng vảy bùn. nó đứng im lìm, không động đậy. chắc cu cậu vừa ăn đẫy một bụng đầy cỏ, tôi vẫn còn kịp đùa cho tới khi nhận ra hai mắt nó đẫm nước và đến gần một chút thì thấy thân mình nó run lẩy bẩy, rồi G.R giật gấu áo tôi, tôi nhìn xuống đất, máu thấm ướt một mảng lớn và vẫn đang không ngừng đổ xuống từ giữa ngực con ngựa. ai đó đã đâm nó, hoặc mấy con chó săn đã cắn nó, hoặc nó đã tự mình lao vào lưới kẽm gai người ta dựng phía sau nhà thờ, dưới ấy đầy cỏ dại. tôi chỉ không hiểu tại sao nó lại làm thế, tại sao nó làm một con ngựa tự sát. tại sao một con ngựa lại tự sát, tôi không hiểu nổi, G.R đã bị kích động hơn mức bình thường, chắc có ai đâm nó thật. sự tàn nhẫn của con người khiến tôi dễ chịu hơn. tôi không tin vào sự tàn nhẫn của thế giới đến mức một con ngựa phải tự sát. bây giờ nghĩ lại, có khi đúng là thế thật, đúng là do con ngựa, thần sắc G.R bắt đầu trở xấu từ đó. lúc chúng tôi chầm chậm đi vòng qua con ngựa, cố không nhìn nó, cô cứ bấu lấy tay tôi, hỏi tôi có ngửi thấy mùi gì không. con ngựa đã ăn xác chết. G.R, ngựa không ăn thịt, tôi phản bác, cùng lắm nó chỉ ăn đến cà rốt là thôi. rồi cô im lặng. cái tội của tôi là đã tưởng vậy là xong. không, con ngựa đã ăn xác chết, một cái gì đã chết, bốc mùi, cái gì chết, tôi không biết, tôi nghe tiếng gọi tôi, thế giới này có phải đã bắt đầu rữa ra từng miếng một, và con ngựa đã ăn cái miếng đã chết đó, hay con ngựa đã ăn chính mình, vì nó muốn chết, mà không thể, nên nó quyết định cứa mình chảy máu, nó tự sát, nó chỉ là một con ngựa, và nó tự sát, tại sao. cô viết đầy trong hai mươi bảy lỗ thông gió. chuông nhà thờ rền sau lưng chúng tôi, cho đến khi vào đến phòng, khoá cửa. quá năm giờ, con ngựa hí lên. đó không phải là tiếng kêu cứu, con ngựa không kêu, cái chết kêu. cái chết thoát ra và nó kêu để phá tung thứ thân xác tầm thường đã làm cái việc giam hãm nó. G.R không nói gì nữa, cô đâm bút vào William F., tôi nghe sự căng thẳng tột độ gõ vào gáy mình. tôi không ở lại cùng cô đêm đó. tôi trở ra tìm con ngựa. G.R nài nỉ tôi đem chôn con ngựa. khi tôi đến nó đã nằm xuống đám cỏ cháy ven đường. một con ngựa khác, nhỏ hơn, đứng cúi đầu chăm chăm nhìn con ngựa chết. thấy tôi, nó ngập ngừng lùi lại, rồi chạy đi. tôi không rõ thế là sao, tôi chẳng bao giờ còn tâm trí đâu mà suy luận khi hai tay phải rờ vào cái chết. như lúc đó. như lúc này. cái chết và sự sống động của nó. chôn tôi. tôi đã nôn sau khi đẩy xác con ngựa vào một cái huyệt nông trên đỉnh đồi. mất gần hai giờ để mang nó lên và hơn một giờ để trở xuống. G.R bảo tôi phải chôn cô như đã chôn con ngựa. đưa cô đến đỉnh đồi, và đào đất bằng tay, không dùng xẻng. tôi bảo được thôi nếu tôi còn là một lão già tráng kiện. bây giờ, phải thú thật với anh, tôi thấy gần như vớ vẩn khi chỉ quan tâm đến mỗi cái chuyện mình sẽ già đi và không cõng nổi G.R, và cũng thật hồn nhiên mà đinh ninh rằng G.R sẽ ra đi trong dáng vẻ đồ sộ bạc phơ của một bà cụ.

Groktek Rasthenberg. tôi nhớ hoài cái hiệu của cái túi cô mang. Groktek Rasthenberg, không quen thuộc, không gợi cảm giác gì. cái túi to, như anh cũng đoán biết, đầy giấy tờ sách vở. dĩ nhiên, William F., sau đó là Paul A., Hamvas B., Henry M., gì đó nữa, không nhớ hết được. chúng tôi va vào nhau trong một phòng triển lãm, và mấy cuốn sách rơi ra khỏi túi. Groktek Rasthenberg. tôi chỉ biết mỗi thế. một sự bày biện trông có vẻ như là nghệ thuật, có phải không. cô hỏi tôi rất nhiều vào lần gặp đầu tiên đó. những thứ trông thích mắt thì tất phải là nghệ thuật, có phải không, mắt chúng ta ưa những gì đèm đẹp, lấp lánh, phải cực kì đèm đẹp, cực kì lấp lánh, tách hẳn ra khỏi cái thường nhật xám xịt. có phải không. đèm đẹp, phải, đèm đẹp, kẻ xu nịnh những con mắt trần thịt. thứ nghệ thuật này, cũng vậy, là một kiểu hoa văn, một trang sức. một đèm đẹp. người ta đâu nói về cuộc sống. người ta ảo tưởng một cái gì cao hơn cuộc sống, cuộc sống lầm than và xám xịt, một cái gì lấp lánh hơn, đẹp hơn, mới xứng đáng với công cuộc lao động nửa mùa, cái đám hành nghề nghệ sĩ đó, chúng đã luôn cưỡi trên những lời lẽ rối rắm xịt nức mùi nước hoa, như cái món thịt bò thấm đẫy gia vị hảo hạng và bóng nhẫy mỡ dầu của một nhà hàng hạng bét. để làm gì? miếng thịt bò thiu, mùi hôi thối, và không có sự thật nào thơm tho nức nở ở đây cả. sự thật là chúng cố gắng tạo ra một giả hiệu và gắn tên sự thật vào đó. những tâm hồn nhạy cảm dễ rung động với cuộc đời? không, chúng chỉ là bọn khéo tay và dẻo miệng. chúng không sống như cái tuyên ngôn nghệ thuật của chúng. nghệ thuật ư, không có nghệ thuật nào cả. chỉ có việc phải sống. chỉ cần sống. mà sống thì phải lột bỏ cái thói ưa xu nịnh của hai con mắt. sống thì phải biết vượt qua hai con mắt.

lúc bước ra khỏi phòng triển lãm, tôi không nghĩ G.R sẽ tiếp tục có mặt trong đời mình. cô khá ấn tượng, dù trông không có gì khác biệt hay nổi loạn. tóc cô dài quá vai, mỏng như tơ, hơi cháy nắng, không buộc, da hơi rám, trán cao, mắt nhỏ, khuôn miệng rộng, lông mày và lông mi thưa. cô không ăn mặc theo bất cứ trường phái nào, bất cứ gì thoải mái, nhưng thường thì luôn là giày, không phải dép, hay cao gót, hay quai hậu. cô không thích việc mấy ngón chân của mình bị nhìn thấy. lúc chia tay G.R, tôi cảm ơn vì cuộc trò chuyện, tôi biết sẽ không còn có cuộc trò chuyện nào như vậy, dĩ nhiên cô không hề tệ, nhưng chỉ thế, một người lạ, kiên định với chính kiến riêng. chúng ta sẽ còn va phải bao nhiêu người như thế trên đường? thêm nữa, khi ấy tôi cũng đang chuẩn bị thực hiện chuyến lang thang vĩ đại của mình, qua bốn đại dương và hai vùng đất thánh. hẳn tôi đã không có quá nhiều lý do để phải bận tâm.

đi thật dài trong lăn lộn vui thú, cũng suýt tiêu đời vài bận, bẵng đi hồi lâu, tôi quên hẳn G.R. hai năm sau đó tôi dạt lên vùng cao nguyên vì bị cướp hết tiền trên xe lửa. tôi nhận ra phán đoán của mình có thể dễ dàng sai bét đến mức nào. G.R đứng ở một quầy hàng khô trong khu chợ cũ, nhìn tôi khật khưỡng trong bộ áo mỏng tanh đang không biết phải làm sao để có thứ bỏ bụng. tôi ở cùng cô suốt hai tuần đầu tiên của mùa đông đó. cô đãi tôi khoai tây nghiền, bánh mì, không bơ hay nước sốt. tôi lạ lẫm nhìn cô tóc ngắn vén sau tai. và căn phòng tối như hũ nút, dưới một thung lũng sâu. bên kia là rừng thông cổ, thi thoảng lạc vào đó mấy cây hồng. tôi thích ăn hồng. có một mùa đông tôi không thở được trong thành phố, tôi cắt tóc, và ra đi. nếu vốn đã chẳng có nơi nào để đi, chi bằng tôi đi đến nơi có cây hồng. khói bụi và dày đặc những lời người ta giăng thành lưới để đánh bẫy nhau, tôi bắt đầu không nhìn rõ được nữa. tôi đi, cắt tóc, cắt dần, cắt thêm, cụt hẳn. không cần ánh sáng, ánh sáng chỉ làm phân tán chúng ta khỏi sự im lặng. sự im lặng tuyệt đối. tôi muốn duy nhất nó. trong im lặng tôi có thể nhìn. trong im lặng tôi nguyên vẹn làm tôi. đêm, G.R chỉ chui vào chăn sau nhiều cuộc viết. cô nằm sát vào tôi. nóng hổi. tôi không cựa mình. cô không bảo tôi ở lại. một hôm trời gió, tôi mở cửa, bảo cô viết cho tôi, rồi tôi đi. G.R không viết cho tôi nhiều, mỗi năm vài ba bức. tôi dọn dẹp, không còn tóc để cắt nữa, William F. nói rất nhiều, nhưng Henry M. nói còn nhiều hơn. bụi kim ngân bị vặt trụi, sao nó chưa chịu chết. dạo này họ năng đến tìm tôi hơn hẳn dạo trước. QQ là một lão cáo già trong làng buôn tranh. lão hói đầu, mang kính đồi mồi, giọng sang sảng. lão có một phòng tranh trưng bày tác phẩm của mình, báo giới vào ra tấp nập. “diễn ngôn về tự do đang siết cổ chúng ta, tuyên ngôn độc lập trói nghiến chúng ta. chúng ta, trần như nhộng, là nạn nhân, khao khát tự giải phóng.” bức tranh có giá bằng cả gia sản của một người làm công ăn lương suốt mấy chục năm cày cuốc. tôi bảo lão tôi không có hứng thú với chiêu trò luồn lách và bàn tay bẩn thỉu của lão đã dúi cho những kẻ quyền lực một khoản kếch xù để được bảo trợ. “không phải cứ muốn nói gì thì nói, làm gì thì làm đâu,” lão cười cợt nhả, “ở cái đất này, chỉ vẽ chơi một cái bản đồ cũng mọt gông thì dù có là nghệ thuật cũng phải biết điều một chút mới tồn tại được, phải nể cái mũi trước khi vuốt cái mặt, nghệ sĩ không cần phải diễn vai nghèo.” tôi mời lão đi khỏi nhà mình, lão hẹn sẽ lại đến để thảo luận về đề cương lão muốn tôi viết cho dự án sắp tới, về tự dothi thoảng, QQ mang theo đồng bọn của lão, một vài tay nghệ sĩ có cái kiểu bôi màu tán loạn hay lia máy ảnh vô tội vạ để lấy cái trò phơi sáng nhòe mờ làm ý nghĩa lớn lao về nỗi buồn thế hệ. L., cũng là bạn QQ, một tay đầu tư có lối nói chuyện điềm đạm giải thích rằng mọi nghệ thuật đều phải thuần khiết, tức là sạch sẽ, không rác rưởi, và quan trọng nhất phải để ngỏ thật nhiều khoảng trống để đợi khán giả lấp đầy. “cô không đồng tình với những cảm xúc thăng hoa trong mấy bức tranh, dễ hiểu, nhưng cô không thể đòi hỏi nó phải rõ mồn một vì nghệ thuật cần mơ hồ, chính cái mơ hồ làm người ta khó nắm bắt, càng khó nắm bắt người ta lại càng tôn vinh giá trị của nó”. tôi không biết L. gìn giữ tiết độ của gã đến mức nào, đã vài bận tôi thấy gã hay dắt theo một con chó kiểng lông xù và lén lút đợi nó đái lên bức tượng điêu khắc trong công viên trung tâm. tồi hơn, khi say khướt, gã cũng vạch quần ra làm cái trò như con chó. vợ của L., HH, tích cực tâng bốc đạo đức trong sáng của chồng. ả chuyên thở ra những bài phê bình một tay văn vở có tiếng tăm nào đó trên tạp chí cuối tuần, tự nhận mình chỉ là một người đọc có trái tim thổn thức. “một người đọc không có quyền can thiệp hay sửa chữa, nhưng người đã viết thì phải viết hay”. HH có thể hăng máu chửi bới nếu kẻ nào không viết cho vừa lòng ả, không chịu nhún mình nhận sai sót, mà cái sai sót lại chính ở sự viển vông của kẻ cầm bút, sa đà vào lỗi biện bạch cho cái thứ chủ nghĩa cá nhân thời thượng, vì theo ả nghệ sĩ đều có tội nếu sở hữu cho riêng mình, và càng có tội hơn cả nếu làm ra thứ nghệ thuật không đủ đẳng cấp tinh hoa để phục vụ cho người thưởng thức. HH khét tiếng đầu cơ sách hiếm và cùng với L. thành lập nên vô số các thể loại quỹ đổ vào các chương trình sáng tác, mỗi năm đạt chỉ tiêu vài chục tác phẩm đem trưng bày. nhưng xét cho cùng, cái hoa mỹ của lũ người này xem ra vẫn còn chịu đựng được nếu hôm ấy tôi mang tất cao quá đầu gối, giày bít mũi, ăn một bữa hòm hòm bánh mì có thêm sữa đậu, và trời không quá mịt mùng. nếu cần phải sợ thì tôi khiếp đảm những kẻ thông minh hơn là khôn vặt, những kẻ có tri thức, chứ không chỉ cái vẻ rặt đánh đấm võ biền. T. cũng đến tìm tôi. hắn mặc âu phục may đo tỉ mỉ, khăn gấp chéo nhét túi áo. hắn luôn giữ cái giọng ôn tồn, rằng sẽ cứu giúp tôi khỏi cái tội phản chúa. “thế giới đầy những kẻ đần độn và chúng ta phải bắt chúng quy hàng.” T. có đủ trí khôn để không vạch áo cho người ngoài bàn tán, hắn ghét bị kẻ khác phán xét, chỉ có hắn mới có quyền phán xét. hắn không tỏ cái thái độ hận thù mà vẫn nhất mực cao thượng sau lần tôi nhổ vào mặt hắn và cái mớ kinh sách vớ vẩn hắn thờ trên buồng tủ. “phải thiền hành tĩnh tại trong mọi sáng tạo nghệ thuật, chỉ có nghệ thuật ấy tồn tại, phải hiến cả thân mình cho cái đẹp thiêng liêng, qua bao nhiêu kiếp người mới gọi là sống.” không, T., tôi bảo hắn, đó chỉ là lý thuyết giẻ rách mà thôi. T. gọi tôi là Judas và cứ mỗi lúc cơn phẫn nộ không được nhận thức của hắn lột truồng cái vẻ gia giáo thánh thiện kia, hắn lại chế giễu tôi dùng ba mươi đồng bạc chỉ để đút vào mồm trong cái xó xỉnh đầy phân gián và chuột. tôi nghĩ vấn đề duy nhất là T. không chịu nổi việc tôi không chấp nhận hắn là đấng thánh, như lời hắn tự nhận. hắn bảo tôi quỳ xuống. tôi nhổ vào hắn, bảo rằng tôi sẽ không là món béo bở để hắn tế thần.

về sau mấy bức thư đột ngột dài ra, tần suất cũng dày lên khác thường. khoảng nửa năm trở lại đây, cho đến lúc này, khi tôi ngồi đây và viết cho anh về một người tôi vừa chôn cất, mọi thứ đều không còn có thực. thế giới cũng không. nhưng sự tàn nhẫn thì vẫn còn ở đó. dạo này tôi không ngủ được nhiều. cứ tỉnh giấc sớm như để canh chừng tiếng chuông lúc bốn giờ sáng. tiếng chuông cần được tôi nghe thấy, như con ngựa đó, cậu còn nhớ con ngựa đã chết trong mùa đông mà chúng ta gặp trên đường? những QQ, L., HH, T. liên tục trở đi trở lại và tôi linh cảm rằng G.R đang bị đe dọa. căn phòng quá bé, và cô chỉ có một mình. tôi nghe những chữ nghĩa mình kêu thét. chúng bị đầu độc. tôi không rõ là ai. nhưng có lẽ chỉ là một trong số bọn họ. lấm lét canh chừng tôi, thủ tiêu tất cả trên bàn viết tôi, sau khi không còn có thể mua chuộc, hay thoả hiệp. bốn giờ sáng tôi tỉnh dậy thấy chữ lần lượt gục xuống và chết mất xác. tôi đã không cứu được. mùi tử thi bám vào tóc gội đi mà không hết. tiếng chuông lại khởi sự như kinh cầu hồn. tháng mười, cô gửi kèm tấm ảnh đầu cạo trọc. khi ấy tôi hẵng còn bơi trên một con tàu cá ngoài khơi đại tây dương. cô bảo đang giữa mùa hồng, cô ra ngoài hai buổi chiều mỗi tuần và trở về trong tối muộn, không bật đèn, nghe tiếng mưa cứ rơi mãi ở đâu đâu mà xòe tay ra hứng thì không thấy. tôi bắt đầu mù. tôi không nghĩ điều này xảy ra, hoặc chí ít là xảy ra sớm vậy. đáng lẽ tôi phải thấy ướt đẫm hai bàn tay mình, bởi tôi đã nghe nước rớt xuống từ trên cao. chỉ còn lại những gì con mắt thấy, không xa hơn khỏi vỏ bọc của một kiếp con người. QQ, lũ bạn lão, L., HH, T., lởn vởn mỗi ngày, ở lì ngoài cửa. tôi bảo tôi không nhìn thấy gì nữa cả. chúng cười ré lên. “bây giờ thì cô sẵn sàng bẻm mép để chạy khỏi bọn này ư, cô đang thấy chúng tôi, cô không phủ nhận được là cô thấy chúng tôi rất rõ”. phải, tôi thấy chúng. rất rõ. không phủ nhận được. tôi còn thấy cả đầu trâu mặt ngựa mang giáp sắt lấm bùn tay cầm đao và đinh ba đứng đợi. tôi nghĩ có khi mình mắc chứng dạ dày. hoặc chứng kiểu cách uỷ mị của bọn thờ William F., hay thờ chúa, kê dưới gối ngủ vài trang giấy xé hú hoạ từ sách thánh hiền. đêm như ru mà không cõi mộng nào còn mở. tôi thấy đau. và bắt đầu khóc. tôi khóc kể từ trước khi chuông điểm, khi ngày rạng, và khi đêm lại trở về. nhưng không có bí mật vĩ đại nào được tiết lộ. tôi đốt hết William F., và chuyển sang Henry M., nhưng vẫn mắc kẹt ở cổ và gục ra bàn viết trắng trơn không chữ nghĩa nào còn sống sót. những giả hiệu tầm thường lẫn lộn vào sự tàn nhẫn tột cùng của thế giới mà tôi không cách nào thấy nữa. chỉ còn nó đang theo dõi tôi, âm thầm, quỷ quyệt. tôi đã bị vấy bẩn. có chăng là thế mà tôi ngừng nhìn thấy. hoặc ngược lại, hoặc bất cứ chiều diễn tiến nào. cái man rợ, của những kẻ cần ăn tươi nuốt sống tôi để tiếp tục tưới tắm trong thứ nghệ thuật vinh quang của chúng, bóp nghẹt tôi từng giây phút một. khi con ngựa đã chết cũng ở đó, sau lưng QQ, đám nghệ sĩ, L., HH, T., đầu trâu mặt ngựa, sau lưng tiếng gõ cửa ba hồi đều đặn cứ từng chập cắt vào đêm và im lặng đen tuyệt đối, tôi hiểu, tôi đã chẳng còn thấy được mình.

tôi ngược trở lại bờ đông sau bức thư cuối, G.R nhờ tôi đem cây bàng trên bàn cô ra trồng ở nơi nắng đẹp. tỉa bụi kim ngân, nếu cậu thấy cần, còn không, cứ tặng cho tụi ma cô và mấy cuộc ẩu đả vô vị của chúng. tôi không nghĩ Henry M. là liều xúc tác đủ mạnh, anh biết đấy, không có ai phải đến mức tự sát sau khi đọc một mớ những thủ pháp liệt kê dài một trang giấy, về đủ loại thức ăn bày biện trên bàn, về những loại người khi đến tiệm may, về mấy thứ chớp tắt trên bầu trời hay trên mặt đất, về những buổi sáng, về hết thảy những tủn mủn nhất trên đời. vậy mà G.R đi. nếu là William F. thì đã dễ đoán biết, nhưng William F. đã bị đốt cho tàn rụi. tôi quyết định đi sau khi Henry M. khép lại. hạ màn. tôi vẫn luôn mong mình là không-ai và nếu mà còn chữ nghĩa thì cũng chôn theo cùng ba tấc đất. tôi đã không hy vọng là buổi chiều, nhưng vừa đắp xong nắm đất và nhìn cây hồng run lên trong trận gió cuối mùa, tôi biết mình phải đối mặt với tiếng chuông nhà thờ khi đi bộ trở về căn phòng của G.R, gói lại cây bàng, cắt cành kim ngân giâm vào góc tường có rào chắn, và gom hết giấy bút còn lại ở mọi ngóc ngách tìm thấy được. đám hành nghề nghệ sĩ và thần thánh, chúng có ở khắp nơi, dù có được đặt tên riêng, là những QQ, L., HH, T., hay bất cứ gì chăng nữa, trong những tiểu thuyết dài hay ngắn cô còn viết dở. cô đã không chọn kết cục cho chúng. cô chọn kết cục cho chính mình. mặc dầu vẫn không thể hiểu, tôi cũng không làm được gì khác. tôi chỉ biết cô như biết một người viết, không biết cả tên cô. tôi không làm bia mộ, chỉ lấy ngón tay vạch nguệch ngoạc hai chữ G.R viết tắt của tên cái túi Groktek Rasthenberg. tôi đã chôn G.R và chữ nghĩa cô, như cách cô muốn, dưới ba tấc đất, qua thung lũng, lên đến đỉnh đồi, như cái cách tôi đã chôn con ngựa, chỉ khác ở chỗ chịu khó tìm thêm một cây hồng trên huyệt mộ. đoạn cây hồng là ý định của riêng tôi. hy vọng cô không phiền lòng vì chuyện đó. tôi cũng không chôn sạch, mà giữ lại Henry M., mùa xuân đen, bỏ vào cái túi Groktek Rasthenberg, cái tên đã mờ và bở ra trên cái mác bằng vải da lộn. xong xuôi, mở cửa, đi được một đoạn thì mặt mũi tôi đầm đìa. tôi không mong đợi mình cần phải cảm thấy một điều gì thật sâu sắc, chúng tôi hầu như chẳng biết gì về nhau, tôi và G.R. tôi không biết về cô đủ để đau buồn, hay tiễn đưa, cố lòng thanh thản. vậy mà càng lúc sức nặng của cơ thể càng đè lên những khoảng trống, hay dĩ vãng, to lớn khủng khiếp, tôi nghi ngờ chính tôi. và không thể từ chối thêm nữa, rằng điều này thật sự quá sức. giá tôi được già đi, sẽ có cớ đổ tội cho tuổi tác. nhưng tôi chỉ mới hai mươi mấy, chắc G.R cũng vậy. vừa bưng mặt, tôi vừa tìm đường trở lại. rồi ngồi xuống, viết cho anh. đất bùn rơi xuống từ hai bàn tay tôi. một người đã qua đời, một người viết, tự sát, và tôi thì ở đây, bây giờ, biên thư này gửi anh, sau khi đi từ bờ tây đại dương ba ngày ba đêm về để chôn cô ấy.

 

 

Please follow and like us: